Tác phẩm tiểu sử: Một phiên bản sự thật

Carl Jung sẽ phân tích ra sao về những giấc mơ của chính mình, sự méo mó của chính mình, những đứt gãy của ý thức và vô thức của chính mình?

Một cảnh trong bộ phim Citizen Kane (1941).

Năm 2022, bộ phim tiểu sử Em và Trịnh về cuộc đời cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đạt mốc 100 tỷ sau ba tuần công chiếu, trở thành một trong những phim Việt có doanh thu cao nhất năm. Tuy vậy, bên cạnh thành công về mặt thương mại, bộ phim cũng vấp phải nhiều chỉ trích, chủ yếu xoay quanh tính xác thực của câu chuyện. Hai danh ca, Thanh Thúy và Khánh Ly, đều lên tiếng đính chính những tình tiết sai lệch với đời thật. Gay gắt hơn, giáo sư Michiko Yoshii – hình mẫu thật của nhân vật Michiko trên phim, đã yêu cầu phía sản xuất phim công khai xin lỗi nếu không sẽ đâm đơn kiện.

Tạm gác sang bên các vấn đề pháp lý, đối với khán giả và cả người sáng tác, ranh giới nào giữa hư cấu và thực tế mà các tác phẩm tiểu sử không nên vượt qua, đặc biệt khi các nhân vật xuất hiện trong phim vẫn còn sống? Liệu giá trị, cảm xúc mang lại của tác phẩm có phụ thuộc vào việc chúng bám sát đời thật đến đâu hay không?

“Tiểu sử” của thể loại tiểu sử 

Tác phẩm tiểu sử (biography), đúng như tên gọi, kể những câu chuyện về các sự kiện, nhân vật có thật trong lịch sử, thường là các danh nhân, nghệ sĩ, anh hùng chiến tranh, chính trị gia… bằng ngôn ngữ văn học hoặc điện ảnh.

Kỹ thuật kể lại những sự kiện thực tế kèm theo vài tình tiết “mông má” có thể đã xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại. Tuy vậy, tác phẩm được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá mang tính cách mạng đối với thể loại tiểu sử là cuốn sách “Life of Samuel Johnson” (Cuộc đời Samuel Johnson) tác giả James Boswell – một luật sư người Scotland. Ngay từ lần đầu xuất bản năm 1791, cuốn sách đã được công chúng đón nhận nồng nhiệt. Đây không phải cuốn sách tiểu sử duy nhất về Samuel Johnson nhưng là tác phẩm thành công nhất. Samuel Johnson là một nhà văn – nhà thơ người Anh có nhiều đóng góp nổi bật cho nền văn học Anh nói riêng. Năm 1763, James Boswell khi đó mới ngoài 20, trong một chuyến du lịch tới Anh đã vô tình làm quen được với nhà văn Samuel Johnson. Boswell có thói quen ghi chép nhật ký kỹ lưỡng từ khi còn trẻ. Những ghi chép này sau đó cũng đã được xuất bản thành 18 tập sách, trong số đó có rất nhiều nội dung xoay quanh Samuel Johnson, đến nỗi Johnson đã “bông đùa” trong một bức thư gửi bạn rằng dễ tưởng Boswell là điệp viên được thuê để theo dõi ông. Những ghi chép của Boswell chính là tiền đề cho cuốn tiểu sử “Life of Samuel Johnson”, được xuất bản sau khi nhà văn người Anh qua đời.


Để đạt được thành công, một tác phẩm tiểu sử cần giúp con người hiểu thêm về con người – không chỉ về một người nổi tiếng.

Về cơ bản, sách tiểu sử được xếp vào thể loại phi hư cấu. Ngoài ra, tiểu sử còn được chia thành các nhánh nhỏ là tự truyện (autobiography) và hồi ký (memoir). Tự truyện giống với sách tiểu sử ở điểm đều kể lại gần như trọn vẹn cuộc đời của nhân vật, nhưng dưới ngôi kể thứ nhất. Còn hồi ký không nhất thiết kể toàn bộ cuộc đời, mà có thể chỉ là một khoảng thời gian nhất định với một chuỗi sự kiện cụ thể, phụ thuộc chủ đề tác giả muốn chia sẻ. Tuy vậy, hai khái niệm này thường bị dùng lẫn lộn với nhau do có nhiều tương đồng khó phân biệt rõ ràng.

Bên cạnh đó, một nhánh khác nữa đã phát sinh, gọi là tiểu thuyết lịch sử (historical fiction) – thuộc thể loại hư cấu. Thể loại này sử dụng một số nhân vật hoặc sự kiện có thật nhưng đặt vào một câu chuyện hoàn toàn giả tưởng. Ví dụ như một tác phẩm đã được xuất bản ở Việt Nam mang tên “Nửa kia của Hitler”, tác giả Eric-Emmanuel Schmitt. Câu chuyện kể về một dòng thời gian khác, nếu như Hitler thi đỗ được vào trường mỹ thuật danh giá ở Paris.

Về các thể loại tiểu sử trong lĩnh vực điện ảnh, phim kinh dị chỉ dài 1 phút của Mỹ “Execution of Mary Queen of Scots” (1895) – đạo diễn Alfred Clark, được coi là tiền thân của thể loại này, nhưng bộ phim tiểu sử chính thức đầu tiên được cho là “Jeanne d’Arc/Joan of Arc” (1900) của nhà làm phim người Pháp Georges Méliès. Thể loại này rất được yêu thích tại châu Âu từ đầu thế kỷ 20, sau đó dần lan rộng khắp thế giới. Trong khoảng thời gian từ 1927 tới 1960, các hãng phim Hollywood đã cho ra mắt tới hơn 300 bộ phim tiểu sử. Xu hướng ưa chuộng phim tiểu sử của Hollywood cũng phản ánh qua các giải thưởng điện ảnh lớn như Oscar. Tính tới 2024, đã có 21 bộ phim tiểu sử giành tượng vàng cho phim xuất sắc nhất trong tổng số 97 bộ phim (chiếm gần 22%) từng đạt được vinh dự này. Ngoài ra, trong vòng mười năm trở lại đây, số lượng giải Oscar cho diễn viên chính xuất sắc nhất trong các phim tiểu sử cũng có xu hướng tăng. Vài ví dụ cụ thể như nam diễn viên Matthew McConaughey với vai nhà hoạt động xã hội Ron Woodroof trong phim “The Dallas Buyers Club” (2013), Eddie Redmayne với vai nhà vật lý Stephen Hawking trong phim “The Theory of Everything” (2014), hay Will Smith với vai Richard Williams trong phim “King Richard” (2021).

Một cảnh trong bộ phim The Theory of Everything (2014).

Sự thật của các tác phẩm tiểu sử

Không khó để chúng ta nhận ra rằng, nhân vật chính của các tác phẩm tiểu sử hầu hết là những người nổi tiếng, đặc biệt là các ngôi sao nghệ thuật, thể thao. Trong tổng số các nhân vật trung tâm của phim tiểu sử Hollywood, các nghệ sĩ giải trí, ngôi sao điện ảnh chiếm khoảng 36%, ví dụ như ca sĩ chính của ban nhạc rock Queen – Freddie Mercury trong “Bohemian Rhapsody” (2018) hay ca sĩ Elton John trong “Rocketman” (2019). Đó cũng là lí do công chúng bị lôi cuốn bởi các tác phẩm tiểu sử và là cơ hội để các nhà xuất bản tranh thủ quảng bá, tăng doanh thu. Thậm chí, đời tư của họ càng nhiều lùm xùm, càng nhiều tranh cãi thì càng hấp dẫn công chúng. Nhưng, dẫu có một điểm xuất phát thuận lợi và nguyên liệu sáng tác dồi dào cho các tác giả, việc viết tiểu sử vẫn không hề dễ dàng.

Gốc rễ sâu xa của niềm yêu thích với thể loại tiểu sử không chỉ dừng lại ở việc chúng tò mò về cuộc đời của những người thành công, xuất sắc vượt trội mà còn ở việc chúng ta luôn tìm kiếm kết nối giữa người với người như một bản năng. Công chúng luôn muốn tiến gần hơn tới những con người vốn cách biệt với họ bởi hào quang của sự nổi tiếng, họ muốn vén vẻ ngoài hào nhoáng trên truyền thông để nhìn thấy phần chân thật, đời thường, trần trụi của những con người này. Những tác phẩm tiểu sử là cầu nối mềm mại cho khao khát đó thông qua nghệ thuật sáng tạo, từ đó đem tới nguồn cảm hứng, động viên, thấu hiểu cho công chúng bên cạnh tính giải trí. Khác với tài liệu lịch sử, yêu cầu tính trung thực và khách quan cao, các yếu tố cảm xúc không phải ưu tiên hàng đầu; các tác phẩm tiểu sử là sự tính toán nâng lên đặt xuống trong việc lựa chọn khía cạnh, góc độ, sự kiện, mối quan hệ riêng tư, cá nhân nào trong cuộc đời của nhân vật để rồi thêu dệt, gắn kết, tinh chỉnh những chi tiết đó ra sao để đưa đến một thông điệp khiến người đọc lay động. Sự thật trong các tác phẩm tiểu sử chỉ là “một góc” của sự thật, chẳng qua, cách kể của tác giả đã thuyết phục lòng ta mà thôi. 


Những tác phẩm tiểu sử là cầu nối mềm mại cho khao khát nhìn thấu phần đời thường của những người nổi tiếng thông qua nghệ thuật sáng tạo, từ đó đem tới nguồn cảm hứng, động viên, thấu hiểu cho công chúng bên cạnh tính giải trí.

Theo cuốn sách “A Dictionary of Film Studies” (Từ điển nghiên cứu phim ảnh) của hai tác giả Annette Kuhn và Guy Westwell, thể loại phim tiểu sử có thủ pháp quen thuộc là hồi tưởng lại những giai đoạn cuộc đời của nhân vật trung tâm, báo trước những sự kiện dẫn tới sự nổi tiếng của họ sau này. Cấu trúc này cho phép các nhà làm phim kể đan xen những thông tin phổ biến mà công chúng đã quen và những tình tiết riêng tư về cuộc đời nhân vật mà có thể ít được biết đến hơn. Tiêu biểu như bộ phim “Citizen Kane” (1941), một tác phẩm được giới phê bình đánh giá cao, kể về ông trùm báo chí William Randolph Hearst. Đến những thập niên 60-70 thì các nhà làm phim Hollywood dần tìm cách tiếp cận cả mặt xấu lẫn mặt tốt của nhân vật trung tâm, đưa ra một góc nhìn trọn vẹn hơn tới khán giả.

Khi nhân vật chính là anh hùng

Thông thường, các tác phẩm tiểu sử thường tập trung vào khía cạnh “vượt qua nghịch cảnh” của nhân vật. Nói cách khác, để đạt được thành tựu mà công chúng chứng kiến, nhân vật này phải trải qua những rào cản khác thường. Một trong những tác phẩm khá thành công gần đây phải kể đến cuốn hồi ký của Britney Spear có tên “The woman in me” (được xuất bản ở Việt Nam với tựa “Người đàn bà trong tôi”). Cuốn sách nhanh chóng trở thành hiện tượng, đã bán được hơn 3 triệu bản trên toàn thế giới, giữ vị trí bán chạy số 1 ở nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Canada và Úc. Tác phẩm này ra mắt khoảng hai năm sau khi Britney Spear thoát khỏi quyền giám hộ ngặt nghèo của người cha vốn từng kiểm soát chi li mọi bữa ăn, giấc ngủ, đi lại, các mối quan hệ,..của cô. Công chúng lúc này, đặc biệt là những người hâm mộ nữ ca sĩ, chờ đợi để lắng nghe câu chuyện từ chính Britney Spear sau khi biết tin cô cuối cùng đã có thể thoát khỏi vòng kiềm tỏa, được phép nói ra những tâm tư, suy nghĩ của mình, với nhiều sự cảm thông hơn là tò mò tọc mạch. Dĩ nhiên không thể tránh khỏi việc một số độc giả chỉ quan tâm tới những tình tiết giật gân trong mối tình nổi tiếng một thời giữa công chúa nhạc Pop và nam ca sĩ Justin Timberlake; nhưng tác phẩm cũng nhận được nhiều phản hồi tích cực với câu chuyện chân thực (dù độc giả không bao giờ biết chắc được thật đến đâu), trần trụi và cảm động về cuộc đời đầy thăng trầm của một nghệ sĩ tài danh.

Một tác phẩm thành công khác cũng theo hướng “vượt qua nghịch cảnh” là bộ phim “The theory of Everything” (2014), dựa trên cuốn hồi ký “Travelling to Infinity: My Life with Stephen” (Du hành tới vô cực: Cuộc sống với Stephen của tôi) của Jane Hawking. Tác phẩm tập trung vào mối tình lãng mạn và cuộc hôn nhân kéo dài 30 năm của bà Jane và Stephen Hawking. Đoàn phim chủ yếu làm nổi bật vẻ đẹp của tình yêu thương và sự hy sinh trước sự trầm trọng ngày một gia tăng của căn bệnh ALS của Stephen Hawking. Còn những gì lùm xùm không mấy tốt đẹp dẫn tới kết cục chia ly sau đó, bộ phim chỉ thoáng lướt qua. Bộ phim nhận được sự ủng hộ của Stephen Hawking, ông khen ngợi diễn xuất tuyệt vời của Eddie Redmayne và khẳng định bộ phim “nhìn chung là chân thật”.

Nhưng “chân thật”, như đã nói, không phải là một yếu tố tối thượng của dòng phim tiểu sử. Cách kể “vượt qua nghịch cảnh” này cần phải cân bằng được giữa những yếu tố mang tính “anh hùng” và những chi tiết mang tính đời thường mà đa số người đọc, người xem có thể đồng cảm. Để đạt được thành công, một tác phẩm tiểu sử cần giúp con người hiểu thêm về con người – không chỉ về một người nổi tiếng. Nếu không, tác giả sẽ dễ mắc bẫy “tô hồng” thái quá, giống như cuốn tự truyện “Phút 89” của cựu cầu thủ có tiếng của đội tuyển Việt Nam – Lê Công Vinh. Câu chuyện làm truyền thông dậy sóng chủ yếu vì những lý do không mấy tích cực, lấn át cả những tình tiết mang tính truyền cảm hứng hơn. Thậm chí, bình luận viên bóng đá kỳ cựu Quang Huy nhận định về cuốn sách rằng những chia sẻ của Công Vinh “… tạo cảm giác tất cả làm nền cho nhân vật chính theo kiểu một mình nổi lên còn tất cả dìm xuống. Đó là chuyện không tốt. Làm thế, người ta sẽ nhìn vào bóng đá Việt Nam và thấy toàn sự xấu xí dù thực ra, nó chỉ là một phần thôi”.

Những hình tượng được “mông má” quá lố, một khi những nét thêm thắt ấy (dù lặt vặt không thay đổi cốt lõi câu chuyện) bị lật tẩy, sẽ kéo theo những giá trị khác bị nghi ngờ, sụp đổ theo. Việc này có thể khiến một bộ phận công chúng tự huyễn hoặc mình bằng những kỳ vọng xa vời. Khi họ liên tục tin vào những câu chuyện phi thường dựa trên sự thật đã bị bóp méo, thổi phồng, họ không còn khả năng chấp nhận những thứ phi thường… một cách bình thường, những gì không hoàn hảo, hay những tủn mủn nhàm chán đời thường cũng có cái hay riêng của nó. Câu chuyện nghe lần này phi phàm rồi câu chuyện tiếp phải phi phàm hơn nữa, cứ như phải tiếp dopamine liều cao liên tục.

Nếu nhân vật chính là kẻ phản diện

Có những trường hợp, nhân vật trong tác phẩm tiểu sử hiện lên trái ngược với những gì ta hình dung về họ, theo hướng tiêu cực. Một trong những ví dụ có thể kể đến là bộ phim The social network kể về giai đoạn sáng lập của mạng xã hội quyền lực nhất hành tinh hiện nay – Facebook khi Mark Zuckerberg còn là sinh viên tại Harvard. Ông chủ của Facebook được khắc họa trong bộ phim là một kẻ hoàn toàn lãnh đạm với các mối quan hệ xã hội, thản nhiên xúc phạm bạn gái, sẵn sàng đâm sau lưng những người cộng sự của mình để đạt được mục đích. Người lập ra nền tảng kết nối 500 triệu người với nhau (con số ở năm 2010 khi bộ phim ra đời, giờ là hơn một tỉ) lại không có nổi một người bạn. Mark Zuckerberg chia sẻ thẳng thắn rằng ông có cảm xúc hỗn độn với bộ phim. Ông thừa nhận có những tình tiết về tạo dựng nền tảng thì chính xác nhưng kịch liệt chỉ trích cách phim xây dựng mục đích và tính cách của ông trên phim, khiến ông thấy bị tổn thương. Bất chấp phản ứng này, bộ phim vẫn được cả giới phê bình lẫn khán giả đón nhận.

Đây là một vấn đề khó xử khi chủ đích của tác giả lại mâu thuẫn với các nhân vật xuất hiện trong tác phẩm hoặc với chính nhân vật trung tâm. Dựng chuyện thì hẳn nhiên sẽ bị phản ứng, nhưng cũng không loại trừ khả năng người còn sống không thích bị “vạch áo cho người xem lưng”. Vậy, liệu những người làm sáng tạo có được phép bất chấp ảnh hưởng trực tiếp tới những con người bằng xương bằng thịt, chỉ để thỏa mãn cái tôi nghệ thuật? Giới hạn nào cho tính hư cấu trong những tác phẩm tiểu sử? Hay nhìn chung là thêm thắt chuyện tốt thì được, chuyện xấu thì thôi? Liệu xem phim truyền cảm hứng về một nhân vật hư cấu phi thường nào đó có kém hiệu quả hơn xem phim về nhân vật có thật trong lịch sử hay không? Hay chỉ cần tính biểu trưng tương đối là đủ truyền cảm hứng rồi?

Đúng là những câu chuyện phi thường có thật luôn đem lại cảm xúc riêng. Nhưng khi cuộc đời của một ai đó được chuyển thể thành tác phẩm tiểu sử, việc tác giả chỉnh sửa ít nhiều cho thêm phần kịch tính, điện ảnh là điều không thể tránh khỏi. Có lẽ chúng ta nên ghi nhớ rằng các tác phẩm tiểu sử không phải tài liệu lịch sử, càng nên tránh sa vào cái bẫy parasocial – tôi đọc hoặc xem những thứ này là biết đích xác về ai đó. Cách chúng ta tiếp nhận một tác phẩm tiểu sử là lựa chọn thiên về xúc cảm cách chúng ta nhìn lại quá khứ. Mục đích của người kể có tác động lớn tới quyết định này: ta muốn nhớ những điều để hờn dỗi, cay nghiệt với nhau hay lưu giữ những ký ức để bao dung, làm lành. Chuyện Stephen Hawking và vợ li dị nhau là thật, nhưng đi đến hết cuộc đời, họ nhận ra đó chỉ là một chấm đen trên vòng cung hai cuộc đời. Họ chọn nhớ nhất về những điều tử tế đã cùng chia sẻ với nhau (và thực tế là bà Jane đã ở bên Hawking vào những ngày tháng cuối cùng của ông).

Bộ phim tiểu sử “Saving Mr.Banks” (2013) kể về cuộc thương lượng quyền chuyển thể bộ sách Mary Poppins của tác giả P. L. Travers và nhà sáng lập Walt Disney đưa ra một góc nhìn đáng suy ngẫm cho điều này. Bà Travers là một người phụ nữ rất cứng rắn. Ban đầu bà cương quyết không đồng ý bán bản quyền, dù đang gặp khó khăn về tài chính và nhiều năm không thể tạo ra một tác phẩm mới, vì nghĩ Mary Poppins sẽ trở thành một viên gạch lót trong đế chế Disney. Sau cùng, điều thuyết phục được bà Travers là khi Disney chia sẻ câu chuyện về người cha của ông; rằng ông đã mệt mỏi khi nhớ về quá khứ bằng những kỷ niệm đau buồn, khổ sở. Và rằng ông tin vào sức mạnh của các tác phẩm nghệ thuật, bởi chúng là cách chúng ta tự trao cho mình một cơ hội thứ hai, cơ hội để tha thứ và xoa dịu. Và ông hứa sẽ “giải cứu” ngài Banks trong câu chuyện, mang hình ảnh người cha của bà Travers. Mary Poppins giống như một ánh nắng tươi vui thoát ra từ thời thơ ấu đau thương của tác giả khi có người cha đầy óc nghệ sĩ và trí tưởng tượng nhưng nghiện rượu và chết sớm, người mẹ tự tử nhiều lần. 

Nói vậy không có nghĩa các tác phẩm tiểu sử đừng có kể chuyện tiêu cực. Người làm nghệ thuật cần trung thực với những rối rắm, phức tạp lớp lang của con người. Nhưng khi kể những điều tối tăm, đau đớn, chúng nên có một mục đích mang hy vọng, thay vì chỉ kể chuyện kinh khủng cho nó… kinh khủng vậy thôi, hay vặt vãnh như kể xấu người này người kia cho bõ tức. Bộ phim tiểu sử “Ray” (2004) kể về cuộc đời làm âm nhạc của Ray Charles, không hề giảm nhẹ, né tránh việc ông từng sa đà, nghiện ngập, suýt đánh đổ cả sự nghiệp. Nhưng nó khiến chi tiết về nghị lực của ông và người vợ (mà ông từng phản bội) kéo ông ra khỏi vũng lầy bằng cách chỉ ra thực tế rằng âm nhạc mới là thứ ông yêu hơn tất thảy, đã trấn an người đọc giữa thực tại tăm tối của bộ phim. 

Tạm kết,

Tìm được điểm cân bằng hoàn hảo khi kể chuyện tiểu sử chắc chắn khó khăn vô cùng. Ấy thế nên mới cần tài năng của những người kể chuyện, và hơn hết là cái tâm của họ trong câu chuyện họ muốn chia sẻ. Liệu sự thật này, có đem lại điều gì tốt đẹp? Cần phải kể thế nào không để giật gân, để biến ký ức, cuộc đời ai đó thành trò tiêu khiển trong phút chốc?□

Bài đăng Tia Sáng số 16/2025

Tác giả

(Visited 20 times, 20 visits today)