Các thành công phát triển kinh tế những thập kỷ qua của Trung Quốc thường được cho rằng nguyên nhân do quốc gia này có một chính quyền trung ương mạnh, có sự đồng thuận cao, khả năng ra quyết định nhanh chóng và thực thi hiệu quả, nhờ đó huy động nguồn lực lớn, xây dựng hạ tầng thần tốc, dẫn dắt các ngành công nghiệp và cả quốc gia tăng trưởng. Nhưng trên thực tế, nguyên nhân lớn nhất đến từ cải cách giảm bớt vai trò quyết định của cơ quan trung ương.
Trao quyền dệt mộng cho người nông dân
Cải cách lớn giảm bớt tập quyền trung ương đầu tiên là chuyển từ tư duy kế hoạch hóa sang khoán hộ. Tương tự Việt Nam, trước đây quyền tổ chức sản xuất ở Trung Quốc nằm trong tay tổ chức kinh tế tập thể. Cho tới khi khoán hộ, dù không tư hữu hóa ruộng đất nhưng đã trao lại quyền tổ chức sản xuất và phần lợi ích còn lại sau khi hoàn thành nghĩa vụ cho người nông dân.
Một nghiên cứu của Zhu Keliang và Roy Prosterman trên 1.962 hộ gia đình nông thôn tại 17 tỉnh nông nghiệp chủ chốt ghi nhận rằng việc trao quyền sử dụng đất lâu dài và ổn định khiến nông dân có nhiều khả năng đầu tư vào đất đai trong trung và dài hạn hơn, dẫn đến hoạt động nông nghiệp hiệu quả hơn và theo định hướng thị trường [1].
Trong bốn năm đầu cải cách, năng suất nông nghiệp đã tăng 50%, đưa thu nhập của cư dân nông thôn Trung Quốc tăng bình quân 11% mỗi năm trong giai đoạn 1979-1984 [2]. Khi quy mô sản xuất mở rộng, những hộ sản xuất hiệu quả nhanh chóng phát sinh nhu cầu thuê lao động ngoài gia đình. Dù chính sách khi đó chưa cho phép, do thuê lao động bị coi là bóc lột tư bản, các hình thức sản xuất vượt quy mô hộ dần chứng minh hiệu quả, rồi được hợp thức hóa thành kinh tế tư nhân. [3]
Nông dân thu hoạch vụ mùa. Ảnh: Wikicommons
Sự phục hồi của nền kinh tế nông thôn tạo điểm tựa cho công nghiệp hóa. Sản lượng lương thực tăng và thu nhập tăng biến hàng trăm triệu nông hộ thành thị trường tiêu dùng, đồng thời giải phóng một lượng lao động lớn khỏi đồng ruộng vào thành phố và các khu công nghiệp [4].
Số lao động ở nông thôn chuyển vào làm việc tại doanh nghiệp, tăng từ 28 triệu vào năm 1978 lên tới gần 100 triệu vào năm 1988, tức là gấp hơn 3,5 lần sau 10 năm [5]. Đầu tiên họ làm việc cho doanh nghiệp tại chính nơi mình sinh sống, sau đó chuyển đến các vùng ven biển, là những nơi có nền kinh tế phát triển nhất hiện nay tại Trung Quốc.
Như vậy, việc trao quyền tổ chức sản xuất cho nông dân với đất sản xuất của mình đã giúp nền kinh tế, vốn kiệt quệ bởi tư duy kế hoạch hóa, đứng dậy và tạo tiền đề cho nền sản xuất sau đó. Sức mua và lực lượng lao động được tái phân bổ, từ đó góp nguồn lực cho nền công nghiệp và đô thị hiện đại.
Sự trao quyền ấy tạo nên nền tảng ban đầu mà nhiều thập niên sau sẽ dệt nên Giấc mộng Trung Hoa. Nhưng lần trao quyền đầu tiên này có một giới hạn là nông dân chỉ được quyết định sản xuất, còn chính quyền địa phương quyết định đất nào là ruộng, đất nào là đất công nghiệp hay đô thị. Phần quyền còn bị giữ lại ấy và những giá trị thụ hưởng từ nó trở thành nhiên liệu cho vòng tăng trưởng thứ hai của kinh tế Trung Quốc. Tuy nhiên, đó đồng thời cũng là nguồn bất ổn nhiều thập niên sau.
"Giải đấu GDP" giữa các "CEO vùng"
Lần trao quyền thứ hai là quá trình mở rộng không gian thử nghiệm và tổ chức phát triển cho chính quyền địa phương từ thập niên 1980. Giữa các địa phương bước vào cái gọi là "giải đấu GDP", hiện tượng được Huang Yiping, Viện trưởng Viện Phát triển Quốc gia thuộc Đại học Bắc Kinh, dẫn lại nghiên cứu của giáo sư cùng trường Zhou Li’an.
Đó là khi các quan chức địa phương Trung Quốc được phân quyền vào vai trò "CEO vùng" tại địa phương mình. Tăng trưởng kinh tế địa phương gắn với triển vọng thăng tiến chính trị, khiến họ trở thành các tổng giám đốc của nền kinh tế vùng [6], hành động như các nhà đầu tư dự án.
Trong giai đoạn mới cải cách, cơ chế này tận dụng nguồn lực tương đối hiệu quả. Một lãnh đạo đứng đầu địa phương có thể chỉ đạo giải phóng mặt bằng, nối điện nước, làm đường, lập khu công nghiệp và yêu cầu ngân hàng cùng doanh nghiệp nhà nước tại địa phương phối hợp. Cuộc cạnh tranh giữa các địa phương trở thành tác nhân thúc đẩy tốc độ của tăng trưởng.
Nhiều quốc gia đang phát triển gặp bế tắc với các dự án nằm ỳ trên giấy bởi thiếu chính năng lực thực thi này. Không ai thu xếp được mặt bằng, vốn và khả năng triển khai cùng lúc và nhanh chóng như các lãnh đạo địa phương Trung Quốc. Khả năng phối hợp quy hoạch, hạ tầng, tín dụng và tổ chức hoàn thành dự án chính là điểm mạnh của Trung Quốc mà Việt Nam có thể học.
Công nhân trong nhà máy ô tô ở Quảng Châu. Ảnh: ILO, cấp phép mở creativecommons 3.0
Phân quyền cũng trao cho các "CEO vùng" vai trò trực tiếp rất lớn trong việc chuyển mục đích sử dụng đất, biến đất nông thôn thuộc sở hữu tập thể thành đất đô thị thuộc sở hữu nhà nước, thu hồi rồi phân bổ quyền sử dụng mới. Quan chức địa phương vì thế có trong tay một tài sản có thể nâng giá đáng kể thông qua quyết định điều chỉnh quy hoạch và đầu tư của mình.
Mặt khác, cải cách thuế năm 1994 đưa các nguồn thu lớn trở lại trung ương, nhưng phần lớn trách nhiệm chi vẫn nằm ở địa phương. Nhiều nhiệm vụ được trung ương giao thêm mà không đi kèm đầy đủ nguồn lực tương ứng [7]. Tỷ trọng của trung ương trong tổng thu ngân sách tăng từ 22% năm 1993 lên 55,7% năm 1994 và vẫn duy trì quanh mức 50% trong giai đoạn gần đây [8]. Trung ương có chuyển giao lại một phần đáng kể, nhưng không thể bù được độ vênh giữa nguồn thu và trách nhiệm chi của nhiều địa phương. Trong khi đó, Luật Ngân sách 1994 hạn chế địa phương vay trực tiếp, tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất được hạch toán vào ngân sách quỹ chính phủ địa phương.
Đây là "tam giác bất khả thi về quản trị" - theo cách gọi của giáo sư Zhou Li’an của Đại học Bắc Kinh, người giới thiệu khái niệm "giải đấu GDP" - khi chính quyền trung ương Trung Quốc đồng thời muốn giữ cứng cả chỉ tiêu, ngân sách và quy tắc [9]. Khi chỉ tiêu trên giao giữ nguyên, ngân sách cùng quyền vay bị giới hạn, địa phương buộc phải tìm nguồn lực ngoài ngân sách. Đất vì thế dần trở thành lời giải cho nghĩa vụ chi trong cuộc đua tăng trưởng và tín dụng ngoài ngân sách.
Mọi con đường đều dẫn đến đất đai
Chính quyền địa phương Trung Quốc, bên nắm quyền quy hoạch và chuyển mục đích sử dụng đất, sử dụng nguồn lực đất đai như thế nào? Mô hình chung là chính quyền thu hồi đất nông thôn, chi trả đền bù với giá rẻ, san nền và đưa điện, nước, đường tới khu vực đó.
Đất nhà ở hoặc thương mại được chuyển nhượng với giá cao; đất công nghiệp có thể được cấp với giá rẻ để thu hút nhà máy công nghiệp về đó sản xuất. Tiền chuyển nhượng đất là doanh thu gộp, được hạch toán trong ngân sách quỹ chính phủ địa phương, tách khỏi ngân sách công chung chủ yếu dựa vào thuế. Từ quỹ này, địa phương chi cho đền bù và giải phóng mặt bằng, san nền, đường sá, điện nước, hạ tầng đô thị và cả các khoản vay liên quan đến phát triển đất. [10]
Ngoài ra, một cách khác để các địa phương Trung Quốc sử dụng đất là thông qua các công ty đầu tư tài chính địa phương (local government financing vehicle, viết tắt là LGFV). Địa phương sẽ góp đất như vốn đầu tư vào các LGFV và các doanh nghiệp này đi vay tiền để xây dựng cơ sở hạ tầng.
Luật Ngân sách năm 1994 hạn chế việc địa phương vay để bù đắp thâm hụt ngân sách, đồng thời địa phương cũng không có quyền tự đặt các sắc thuế mới. Trong khi đó chính quyền địa phương vẫn cần nguồn tiền cho những dự án vượt quá ngân sách chính thức để xây hạ tầng và tạo tăng trưởng, nên càng có động lực để biến đất đai thành nguồn tiền và tài sản bảo đảm cho LGFV huy động vốn ngoài ngân sách chính thức. Bộ Tài chính Trung Quốc cũng nhận định rằng các nền tảng tài chính địa phương đã dần phát triển thành kênh huy động chính [11]. Theo số liệu Kiểm toán Nhà nước Trung Quốc, khoảng 37% số nợ của chính quyền địa phương vào giữa năm 2013 được bảo đảm bằng doanh thu bán đất trong tương lai. [12]
Khi mô hình hoạt động trơn tru, cơ sở hạ tầng hoàn thiện nâng giá đất, giá đất tăng tài trợ cho hạ tầng trong tương lai, còn các khu công nghiệp và nhà ở tạo việc làm và đóng thuế cho chính quyền địa phương. Mô hình tăng trưởng dựa vào đất và tín dụng của địa phương này đã giúp Trung Quốc công nghiệp hóa và đô thị hóa với tốc độ ít quốc gia nào khác sánh được, hiện thực hóa Giấc mộng Trung Hoa.
Mô hình này còn tạo cho Trung Quốc khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Theo phân tích của Andrew Polk và Dinny McMahon, chỉ khoảng 25–30% đất thu hồi được bán cho nhà phát triển bất động sản, phần lớn còn lại được cấp rẻ thậm chí miễn phí cho doanh nghiệp sản xuất [13]. Tiền từ đất ở thương mại đồng thời trang trải chuẩn bị mặt bằng và ưu đãi đất công nghiệp, đóng vai trò là một khoản trợ cấp ẩn tạo nên sức cạnh tranh của "công xưởng thế giới".
Những người trẻ đi tìm việc ở Quảng Châu. Ảnh: ILO, cấp phép mở creativecommons 3.0
Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa cũng có mặt trái khi tăng trưởng này bỏ quên nông dân. Họ không được hưởng tương xứng với phần giá trị tăng thêm sau khi đất được chuyển mục đích.
Giấc mộng của ai?
Nông dân chỉ có quyền canh tác trên mảnh đất vốn thuộc sở hữu tập thể; họ không có quyền tự chuyển mảnh đất ấy thành đất công nghiệp hay đô thị để bán cho nhà đầu tư.
Đất được thu hồi khi còn là ruộng; người nông dân được đền bù cho giá trị nông nghiệp chứ không phải giá trị sau chuyển đổi. Điều 47 Luật Quản lý đất đai 1998, sửa đổi, bổ sung năm 2004 quy định tiền đền bù đất canh tác bằng khoảng 6–10 lần giá trị sản lượng nông nghiệp bình quân của ba năm trước. Công thức này chỉ bù đắp giá trị sử dụng nông nghiệp bị mất, chứ không định giá quyền phát triển đô thị mà mảnh đất sắp có.
Ngoài ra, tiền đền bù đất thường được chuyển cho tổ chức kinh tế tập thể trước khi phân phối cho từng hộ; chỉ tiền cây trồng và tài sản trên đất mặc nhiên thuộc về người nông dân. Sau đó, mảnh đất được quy hoạch, san lấp, nối điện đường và phân phối lại cho nhà máy hoặc nhà phát triển bất động sản. Chính quyền và nhà phát triển phân chia giá trị của mảnh đất sau khi chuyển mục đích.
Người nông dân không nắm quyền chuyển mục đích, không được định giá theo giá đất sau chuyển đổi và cũng không phải lúc nào cũng nhận trực tiếp toàn bộ khoản đền bù. Một khoản tiền trả một lần cũng không bù đắp được những gì nông dân đã mất đi. Họ không được hưởng dòng tiền lâu dài từ khu công nghiệp, khu nhà ở hoặc hạ tầng được xây trên chính mảnh đất đó.
Một ước tính của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc vụ viện Trung Quốc được OECD dẫn lại vào năm 2015 cho thấy chỉ khoảng 5-10% phần giá trị đất tăng thêm từ việc chuyển mục đích sử dụng đến với nông dân dưới dạng đền bù [14]. Khoản đền bù ấy không tương xứng với giá trị đất đai họ mất đi.
Ruộng đất đem lại dòng thu nhập qua nhiều năm, cung cấp lương thực và đóng vai trò như một mạng an sinh phi chính thức khi việc làm ngoài nông nghiệp biến mất. Khi mất đất, hộ gia đình không chỉ mất vụ mùa hiện tại mà còn mất quyền hưởng giá trị từ mảnh đất đó trong tương lai.
Khi mô hình đất đai - tín dụng trở thành "cơn ác mộng"
Mô hình tăng trưởng dựa vào đất và tín dụng của địa phương có một kỳ vọng cốt lõi là dòng tiền tương lai từ người mua nhà ở thương mại sẽ tiếp tục duy trì vòng quay tăng trưởng. IMF ước tính nhà ở hình thành trong tương lai từng chiếm khoảng 90% giao dịch nhà ở trong những năm gần đây, khiến tiền ứng trước trở thành nguồn vốn chủ lực của nhà phát triển bất động sản [15].
Người mua trả tiền cho căn hộ chưa hoàn thành, nhà phát triển bất động sản dùng doanh số dự kiến để vay tiền đầu tư xây thêm nhà và mua thêm đất, còn chính quyền cùng các LGFV dựa vào tiền bán đất và giá trị của đất trong tương lai để trả món nợ đã vay.
Trong giai đoạn 2003-2013, thu nhập tăng nhanh đã hỗ trợ nhu cầu nhà ở tại nhiều đô thị, cùng với những lần chính quyền trung ương cố gắng giải cứu thị trường bất động sản và sự phụ thuộc của địa phương vào tiền bán đất và dùng đất như tài sản bảo đảm, đã tạo cảm giác rằng nhà ở không thể mất giá. [16]
Các tòa nhà do tập đoàn Evergrande xây dựng ở Vân Nam. Ảnh: Windmemories, cấp phép mở creativecommons 4.0
Tuy nhiên, khi tăng trưởng chậm lại, dân số bắt đầu giảm, lượng nhà tồn kho ở mức cao, kỳ vọng về giá nhà tiếp tục tăng suy giảm, khiến cho doanh số giảm sút. Cùng lúc, chính sách "Ba lằn ranh đỏ" của chính phủ Trung Quốc siết chặt tín dụng và việc dùng đòn bẩy đối với các công ty bất động sản lớn. Chính sách này làm lộ rõ điểm yếu của những nhà phát triển dựa vào đòn bẩy cao và vòng quay nhanh.
Khi căng thẳng thanh khoản lan rộng, tiến độ bàn giao nhà bán trước chậm lại, trong khi lượng dự án dở dang và nợ đọng với nhà cung cấp tăng lên [17]. Công trường bỏ dở thì người mua lại càng tránh mua, doanh nghiệp lại càng thiếu tiền để hoàn thành dự án. Khủng hoảng niềm tin đã trở thành khủng hoảng thật sự.
Trao quyền tận dụng nguồn lực bất động sản tại địa phương và khả năng thực thi xây dựng cơ sở hạ tầng đã dệt nên nền tảng của giấc mộng Trung Hoa, nhưng cũng làm nền kinh tế chạy theo mô hình tăng trưởng có tính đầu cơ, coi việc bất động sản tăng giá là tất nhiên. Nhiệm kỳ ngắn và cơ chế "giải đấu GDP" càng khuyến khích quan chức lựa chọn những dự án lớn, hữu hình, thành tích trước mắt, trong khi hệ quả nợ có thể nảy sinh khi họ đã chuyển vị trí [18].
Khi khủng hoảng bất động sản của Trung Quốc xảy ra, các bánh răng trong mô hình tăng trưởng của Trung Quốc bắt đầu gặp vấn đề. Từ năm 2021, khi nhu cầu mua đất và nhà ở suy yếu, việc dùng đất đai để hỗ trợ tăng trưởng của địa phương ở Trung Quốc cũng lập tức gặp thách thức.
Nguồn thu từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc sở hữu nhà nước giảm 52,3%, từ 8,71 nghìn tỷ NDT năm 2021 xuống 4,15 nghìn tỷ NDT năm 2025 [19]. Riêng sáu tháng đầu năm 2026, khoản thu này đạt 977,8 tỷ NDT, giảm 31,5% so với cùng kỳ [20]. Sự giảm sút còn nằm ở giá trị của đất như tài sản thế chấp, là khả năng hỗ trợ của chính quyền địa phương với LGFV, và các khoản thu thuế gắn với bất động sản và xây dựng.
Chính quyền địa phương cũng mất đi khoản tiền để đền bù và tái định cư cho người dân, để trả cho nhà thầu hay nhà cung cấp thực hiện các khâu san nền và làm hạ tầng. Khi chính quyền chậm thanh toán, doanh nghiệp lại chậm trả cho nhà cung cấp và người lao động của mình, thậm chí phải sa thải lao động, khiến khủng hoảng lan ra xã hội. [21]
Câu chuyện Trung Quốc không xa lạ với Việt Nam
Đất từng giúp Trung Quốc huy động vốn và xây dựng hạ tầng với tốc độ hiếm có. Nhưng khi nguồn thu thường xuyên phụ thuộc vào giá bất động sản, sức mạnh hôm qua trở thành nguồn cơn khủng hoảng hôm nay khi giá đất đảo chiều.
Câu chuyện đất đai của Trung Quốc cũng đã xảy ra và trở nên quen thuộc ở Việt Nam. Trung Quốc và Việt Nam đều trao quyền sử dụng đất cho hộ gia đình mà không tư hữu hóa, và đều trao cho chính quyền vai trò lớn đối với đất đai. Ở Việt Nam, đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Ở Trung Quốc, đất đô thị thuộc sở hữu nhà nước và đất nông thôn thuộc sở hữu tập thể. Ở cả hai nước, việc chuyển mục đích sử dụng đất vẫn chịu sự chi phối mạnh của quy hoạch và quyết định hành chính chứ không phải thị trường, nên nhà phát triển không thực sự tiến hành thỏa thuận với người dân.
Vì thế, với Việt Nam, bài học là năng lực phối hợp, thực thi và làm hạ tầng của Trung Quốc dưới sự dẫn dắt của một chính phủ kiến tạo, đồng thời tránh nguồn thu, mô hình tăng trưởng, và cơ chế thăng tiến chính trị phụ thuộc quá mức vào bất động sản.
Việt Nam vẫn còn thời gian để thay đổi cơ chế. Nguồn thu vốn, trong đó có tiền giao quyền sử dụng đất, tuy tăng nhanh, năm 2025 gấp đôi năm 2024, nhưng cũng mới chỉ đạt 3,6% GDP. Nợ địa phương cũng ở mức thấp, chỉ chiếm 0,7% GDP vào năm 2025. [22]
Để tránh khỏi vấn đề Trung Quốc đã gặp phải, Việt Nam cần sửa đổi Luật Đất đai theo hướng tối đa hóa giá trị đóng góp dài hạn của đất cho nền kinh tế. Bài học từ giai đoạn cải cách đầu tiên của Trung Quốc, là khi quyền sử dụng đất được đảm bảo cao hơn, người dân có động lực đầu tư dài hạn và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Khi cần chuyển đổi mục đích sử dụng đất, sự tham gia thực chất của người dân chịu ảnh hưởng của chuyển đổi cho phép chi phí đầu tư vào mục đích sử dụng mới phản ánh đầy đủ hơn những giá trị mà người dân phải từ bỏ, thay vì bóp méo bằng cơ chế hành chính để nhà đầu tư mới được tiếp cận đất với chi phí sử dụng thấp. Phần chi phí tưởng chừng tiết kiệm cho phát triển kinh tế, thực chất là gánh nặng chuyển sang vai người dân dưới dạng mất nơi ở, sinh kế, hoặc mạng lưới an sinh gắn với đất.
Chỉ khi chi phí chuyển đổi phản ánh đầy đủ chi phí người dân phải gánh vác, nó mới tạo bộ lọc để loại bỏ những dự án không có hiệu quả thực chất cho xã hội, chỉ có sức hấp dẫn bề ngoài nhờ giá đất đầu vào rẻ mạt, đồng thời thúc đẩy nhà đầu tư tạo ra nhiều giá trị hơn trên đất để bù đắp chi phí cho địa phương về sinh kế, việc làm, nhà ở, dịch vụ công và an sinh.
Vì vậy bài học rút ra từ thực tế ở Trung Quốc chính là cần thiết sự tham gia thực chất của người dân vào quá trình quyết định mục đích sử dụng đất, cũng như chia sẻ giá trị tăng thêm để sử dụng làm động lực phát triển. Người cuối cùng chống đỡ toàn bộ hệ thống bất động sản chính là người mua nhà, mà người mua nhà chính là người dân. Việc người dân mất đất nhưng hưởng tương đối ít từ phần giá trị đất tăng thêm là một trong những bất cân đối phân phối tài sản khiến cho mô hình tăng trưởng dựa vào bất động sản trở nên mong manh ở Trung Quốc. Đây là rủi ro mà Việt Nam cần tránh.
---
Nguồn tài liệu trích dẫn trong bài:
[1] Zhu Keliang và Roy Prosterman, (2007). Securing Land Rights for Chinese Farmers: A Leap Forward for Stability and Growth. Cato Development Policy Analysis no. 3, 15/10/2007, Cato Institute, tr. 1.
[2] Zhu Keliang và Roy Prosterman, (2006). From Land Rights to Economic Boom. China Business Review, July–August 2006, tr. 45.
[3] Zhao Shukai (2024). Đặng Tiểu Bình và Chính sách lao động. Chính sách nông nghiệp đương đại.
https://mp.weixin.qq.com/s/FeThzhkcJtwG1aAnMZrkeA?utm_source=substack&utm_medium=email
[4] Daron Acemoglu và James A. Robinson, (2012). Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity, and Poverty. Crown Publishers, tr. 473; Frank Dikötter, (2022). China After Mao: The Rise of a Superpower. Bloomsbury Publishing, tr. 195.
[5] Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc, (1999). Các doanh nghiệp xã, thôn nổi lên như một lực lượng mới. 50 năm nước Trung Hoa mới: Loạt báo cáo phân tích, số 6, ngày 18/09/1999.
https://www.stats.gov.cn/zt_18555/ztfx/xzg50nxlfxbg/202303/t20230301_1920444.html
[6] Huang Yiping, (2024). Sự chuyển đổi vai trò của chính quyền địa phương và hướng đi mới của chính sách kinh tế. Bài phát biểu ngày 09/09/2024 tại Viện Phát triển Quốc gia, Đại học Bắc Kinh.
https://mp.weixin.qq.com/s/K7DkxTLiAYBCZbFpgCFs3A?utm_source=substack&utm_medium=email
[7] Huang Yiping, (2024). Sự chuyển đổi vai trò của chính quyền địa phương và hướng đi mới của chính sách kinh tế. Bài phát biểu ngày 09/09/2024 tại Viện Phát triển Quốc gia, Đại học Bắc Kinh.
https://mp.weixin.qq.com/s/K7DkxTLiAYBCZbFpgCFs3A?utm_source=substack&utm_medium=email
[8] Liu Kun, (2020). Quan hệ tài chính trung ương và địa phương của Trung Quốc. Bài giảng chuyên đề thứ 18 trước Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc khóa XIII của Bộ trưởng Bộ Tài chính Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, ngày 13/08/2020.
https://www.mof.gov.cn/zhengwuxinxi/caizhengxinwen/202008/t20200813_3567412.htm
[9] Zhou Li’an, (2026). Tam giác bất khả thi về quản trị. Tạp chí Xã hội học Trung Quốc, 46(3), tr. 1.
[10] Bộ Tài chính Trung Quốc, Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, (2006). Thông báo về việc ban hành "Biện pháp quản lý thu, chi từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc sở hữu nhà nước", Văn kiện Tài chính và Thuế Số 68, ngày 31/12/2006, có hiệu lực từ 01/01/2007.
https://www.mof.gov.cn/gkml/caizhengwengao/caizhengbuwengao2007/caizhengbuwengao20075/200805/t20080519_26378.htm
[11] Tin tức Tài chính và Kinh tế Trung Quốc, (2015). Trái phiếu chính quyền địa phương Trung Quốc: Quá khứ và hiện tại. Bộ Tài chính Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, 15/04/2015.
https://www.mof.gov.cn/zhengwuxinxi/caijingshidian/zgcjb/201504/t20150415_1216920.htm
[12] Hanming Fang et al, (2016). Demystifying the Chinese Housing Boom. NBER Macroeconomics Annual, vol. 30, no. 1, tr. 42, chú thích 24.
[13] Andrew Polk và Dinny McMahon, (2026). Can Asset Revitalization Save Local Government Finances? Trivium China Podcast, Sinica Podcast Network 05/06/2026.
[14] OECD, (2015). OECD Urban Policy Reviews: China 2015. OECD Publishing, Paris, tr. 118.
https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2015/04/oecd-urban-policy-reviews-china-2015_g1g51028/9789264230040-en.pdf
[15] International Monetary Fund, Monetary and Capital Markets Department, (2022). Financial Stability in the New High-Inflation Environment. Global Financial Stability Report, October 2022: Navigating the High-Inflation Environment, Chapter 1, tr. 21.
[16] Hanming Fang et al, (2016). Demystifying the Chinese Housing Boom. NBER Macroeconomics Annual, vol. 30, no. 1, tr. 18.
[17] International Monetary Fund, (2024). People’s Republic of China: Selected Issues, "Smoothing the Path to a New Normal: China’s Property Sector Transition". IMF Country Report no. 24/50, tr. 3.
[18] Xueguang Zhou, (2022). The Logic of Governance in China: An Organizational Approach. Cambridge University Press, tr. 198-203
[19] Bộ Tài chính Trung Quốc, (2022). Tình hình thu, chi tài khóa năm 2021. Vụ Kho bạc, 29/01/2022.
https://gks.mof.gov.cn/tongjishuju/202201/t20220128_3785692.htm
[20] Bộ Tài chính Trung Quốc, (2026). Tình hình thu, chi tài khóa năm 2025. Vụ Kho bạc, 30/01/2026.
https://gks.mof.gov.cn/tongjishuju/202601/t20260130_3982923.htm
[21] Bộ Tài chính Trung Quốc, (2026). Tình hình thu, chi tài khóa sáu tháng đầu năm 2026. Vụ Kho bạc, 22/07/2026.
https://gks.mof.gov.cn/tongjishuju/202607/t20260722_3993943.htm
[22] Andrew Polk và Dinny McMahon, (2026). Can Asset Revitalization Save Local Government Finances? Trivium China Podcast, Sinica Podcast Network 05/06/2026.
[23] World Bank, (2026). Cập nhật Tình hình Kinh tế Việt Nam, Tháng 5 2026: Kiên định Cải cách, Ứng phó với Biến động, tr. 19.
https://openknowledge.worldbank.org/server/api/core/bitstreams/22fadb89-7581-4747-843a-4c79f56df309/content