Cơ hội này đã giúp cho các nhà khoa học Việt bắt nhịp được với sự chuyển động của nền khoa học quốc tế và đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành khoa học cơ bản tại Việt Nam.
![]() |
Các nhà khoa học tại ICTP năm 1991. Ảnh: GS.TS Ngô Việt Trung cung cấp |
Việc đến thăm ICTP giống như bước vào thiên đường: bạn có thể toàn tâm toàn ý nghiên cứu khoa học và tiếp cận một thư viện tuyệt vời với hầu như mọi tài liệu bạn cần. Ngoài ra, bạn còn có thể tiết kiệm tiền để hỗ trợ cuộc sống ở Việt Nam sau đó. Mỗi lần tôi đến ICTP, tôi đều gửi và mang về nhà hàng kilôgam sách và bài báo khoa học. Theo một cách nào đó, nhiều người trong chúng tôi đã vượt qua thời kỳ khó khăn đó nhờ các chuyến thăm ICTP và những nơi khác ngoài Việt Nam. Đó là chia sẻ của GS.TS Ngô Việt Trung (Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) tại Hội thảo "ICTP và Khoa học Việt Nam: 60 năm hợp tác và kiến tạo tương lai" do Viện Hàn lâm KH&CN tổ chức vào cuối tháng 11.
Bước đệm đến tương lai
Được thành lập vào năm 1964 bởi nhà vật lý đoạt giải Nobel Abdus Salam, ICTP - một Trung tâm dạng 1 của UNESCO, có trụ sở tại thành phố Trieste, Italy - là cầu nối quan trọng cho các nhà khoa học trên toàn thế giới, đặc biệt là các nhà khoa học đến từ các nước đang phát triển. Các hoạt động chính của Trung tâm tổ chức nhiều loại hình đào tạo, từ các khóa học ngắn hạn đến các chương trình tiến sĩ, bao gồm các lĩnh vực như vật lý năng lượng cao, vật lý chất rắn, toán học, vật lý địa cầu và khoa học máy tính; cũng như tổ chức các hội nghị và hội thảo khoa học hằng năm. Trung tâm này cũng hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức quốc tế khác để xây dựng các trung tâm nghiên cứu và đào tạo tại các nước đang phát triển.
Trong suốt quãng thời gian tồn tại và phát triển của mình, ICTP đã đón tiếp hơn 180,000 nhà nghiên cứu đến từ 188 quốc gia, giúp đào tạo hơn 4500 sinh viên và nhà nghiên cứu từ 108 quốc gia đang phát triển thông qua các chương trình đào tạo và học bổng khác nhau như chương trình sau đại học, hoặc chương trình cộng tác viên. Hai chương trình này được GS. Abdus Salam tạo ra ngay từ khi Trung tâm mới thành lập và cho phép các nhà nghiên cứu làm việc tại các quốc gia đang phát triển đến học tập/thăm ICTP, từ đó duy trì các mối quan hệ chính thức lâu dài với Trung tâm - một môi trường khoa học năng động và thúc đẩy nghiên cứu. Hiện nay, ICTP đã phát triển thành một mạng lưới toàn cầu với năm viện nghiên cứu ở bốn lục địa, quy tụ khoảng gần 6.000 nhà khoa học mỗi năm.
"Tên sự kiện này là ‘ICTP và Khoa học Việt Nam: 60 năm hợp tác và xây dựng tương lai’ nhưng tôi muốn thay đổi thành ‘60 năm hỗ trợ mạnh mẽ của ICTP đối với khoa học Việt Nam’, bởi mối quan hệ hợp tác này chủ yếu là một chiều", GS. TS Ngô Việt Trung hóm hỉnh chia sẻ. Cho đến nay, theo số liệu từ GS. Claudio Arezzo, ICTP đã hỗ trợ hơn 1.500 nhà khoa học và học viên từ Việt Nam tham gia các hội nghị, hội thảo, chương trình đào tạo và giáo dục của Trung tâm tổ chức. Trong các thập kỷ 1980 và 1990, ICTP là một trong số rất ít "cánh cửa" để các nhà khoa học Việt Nam bước ra thế giới - một cơ hội thật sự đã giúp khoa học Việt Nam hội nhập và phát triển với nền khoa học quốc tế.
Trong đó, toán học và vật lý – hai lĩnh vực khoa học cơ bản mạnh nhất ở Việt Nam, đã nhận được nhiều lợi ích nhất từ sự hỗ trợ của ICTP. "Theo tôi biết, hầu hết các nhà vật lý và một nửa các nhà toán học thuộc thế hệ của tôi đều đã từng đến thăm ICTP", GS. Ngô Việt Trung cho hay. Nhưng tại sao lại là ICTP? "Thế hệ của tôi chủ yếu được đào tạo ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Khi trở về Việt Nam, chúng tôi không có sách báo và tạp chí khoa học, mất liên lạc với thế giới bên ngoài. Lúc đó chưa có internet và thậm chí cũng không có máy photocopy. Trước khi trở lại Việt Nam, tôi phải chép tay một số cuốn sách. Hơn nữa, điều kiện sống sau chiến tranh rất khó khăn", GS.TS Ngô Việt Trung nhớ lại. Mặc dù việc tiếp cận thông tin khoa học hiện nay không còn là một thách thức lớn nhờ sự phát triển của internet, nhưng đây từng là một rào cản đáng kể trong quá khứ, đặc biệt là cho đến đầu những năm 2000. "Thư viện của ICTP, được biết đến là một trong những nơi có nguồn tài nguyên tốt nhất trên thế giới, đã trở nên vô giá. Các nhà nghiên cứu Việt Nam khi đến thăm ICTP thường mang về rất nhiều bản sao tài liệu và sách vở, trong đó có cả tôi. Những chuyến thăm này đã đóng vai trò quan trọng đối với công việc nghiên cứu trong giai đoạn đó", PGS.TS Trịnh Xuân Hoàng (Viện Vật lý) nhớ lại.
Một khía cạnh tuyệt vời khác của ICTP là các lớp học và hội thảo, nơi các học viên từ các nước đang phát triển có thể học hỏi và thảo luận với các chuyên gia từ các nước phát triển. "Tôi đã tham gia vào ICTP chủ yếu qua việc tổ chức 5 lớp học và hội thảo trong lĩnh vực của mình, lần đầu tiên vào năm 1992 và lần gần nhất vào năm 2022. Những hoạt động này đã giúp xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh ở Ấn Độ, Iran và Việt Nam. Một đồng nghiệp của tôi, một chuyên gia hàng đầu ở Ấn Độ, đã nói trong bài phát biểu khi nghỉ hưu rằng hội thảo năm 1992 là bước ngoặt, khi ông có cơ hội ra nước ngoài sau khi hoàn thành tiến sĩ và nhận được nhiều cảm hứng cho nghiên cứu sau này", GS.TS Ngô Việt Trung cho biết.
Nhờ sự tài trợ bền bỉ của ICTP và những kết nối hợp tác như vậy, cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu xuất sắc của Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng chú ý và được ICTP ghi nhận và trao tặng những giải thưởng quan trọng, tiêu biểu như: GS. Đàm Thanh Sơn đã được trao tặng Huy chương Dirac - giải thưởng dành cho nhà khoa học có những đóng góp đáng kể cho vật lý lý thuyết và là một trong những danh hiệu danh giá nhất trong lĩnh vực này, GS.TS. Lê Hồng Vân được trao Giải thưởng Majorana của Viện Vật lý lý thuyết ICTP năm 1991 và GS. Phạm Hoàng Hiệp đã nhận được Giải thưởng Ramanujan - giải thưởng dành cho các nhà toán học trẻ ở các quốc gia đang phát triển.
![]() |
GS. Abdus Salam - Giám đốc ICTP trao giải thưởng ICTP năm 1991 cho TSKH. Lê Hồng Vân. Ảnh: VAST |
Không trải qua những khó khăn của việc nghiên cứu khoa học trong thời kỳ cấm vận, song, TS. Nguyễn Thị Kim Thanh (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) - người đã giành được giải thưởng Tạ Quang Bửu 2024 với công trình "Thermoelectric Transport in a Three-Channel Charge Kondo Circuit", xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters - cũng thấu hiểu sâu sắc những giá trị quan trọng mà việc hợp tác với trung tâm nghiên cứu quốc tế mang lại. "Với tôi, ICTP là một mối lương duyên đặc biệt", TS. Nguyễn Thị Kim Thanh chia sẻ. "Thật may mắn là tôi đã hai lần được nhận học bổng của ICTP. Có thể nói chắc chắn rằng, chương trình này rất quan trọng đối với sự nghiệp nghiên cứu của những nhà khoa học như tôi". Sau nhiều thăng trầm kể từ lần đầu tiên đến ICTP vào năm 2007 để bắt đầu chương trình nghiên cứu sau tiến sỹ, TS. Nguyễn Thị Kim Thanh trở về nước và đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn, đặc biệt là vấn đề tài chính. Những thách thức từ thực tiễn đã khiến chị thực sự trăn trở về lựa chọn có nên tiếp tục theo con đường nghiên cứu khoa học hay từ bỏ tất cả ước mơ vật lý của mình để trở thành giáo viên phổ thông ở một trường tư thục nào đó để ổn định cuộc sống. Song, nhờ sự động viên và kết nối lại hợp tác của GS. Mikhail Kiselev tại ICTP, TS. Nguyễn Thị Kim Thanh đã quay trở lại ICTP để tiếp nối mạch nghiên cứu. Với các cuộc thảo luận trực tiếp để trao đổi ý tưởng và mở ra hướng đi mới trong những lần chị gặp GS. Kiselev ở ICTP và một số nơi theo các chương trình mà ICTP tham gia tổ chức, TS. Nguyễn Thị Kim Thanh đã gặt hái được nhiều thành tựu mới trong lĩnh vực trọng tâm nghiên cứu mà chị theo đuổi: Vật lý Kondo điện tích.
"Câu chuyện của tôi, một nhà nghiên cứu trong những bước đi đầu của sự nghiệp, chỉ là một trong số nhiều câu chuyện của các nhà khoa học Việt Nam thuộc nhiều thế hệ khi may mắn được gia nhập mái nhà chung ICTP", TS. Nguyễn Thị Kim Thanh bày tỏ.
Giá trị của hợp tác quốc tế
Có thể thấy, rất nhiều nhà khoa học của Việt Nam đã có được những bước tiến dài trong sự nghiệp của mình với sự hỗ trợ từ trung tâm ICTP. Những sự hợp tác này không chỉ giúp ích cho sự nghiệp của cá nhân từng nhà khoa học, mà còn góp phần thay đổi bối cảnh khoa học của đất nước, đặc biệt là nghiên cứu cơ bản. "Có lẽ tác động rõ ràng nhất là trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, góp phần xây dựng năng lực cho Việt Nam", PGS.TS Trịnh Xuân Hoàng (Viện Vật lý) nhận định. "Đối với những nhà nghiên cứu này, việc tiếp cận với chuyên môn đẳng cấp thế giới và khoa học tiên tiến tại ICTP đã tạo nên sự thay đổi to lớn. Họ được trang bị kiến thức và kỹ năng để giải quyết những vấn đề phức tạp và dẫn dắt đổi mới sau khi trở về Việt Nam". Những cá nhân này đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng tầm các tổ chức trong nước, mang theo những tiến bộ mới nhất và các phương pháp hiện đại, qua đó truyền cảm hứng cho thế hệ các nhà vật lý tiếp theo.
Tương tự, trong lĩnh vực toán học, việc hợp tác này cũng góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Một ví dụ tiêu biểu là trường hợp của Đại học Quy Nhơn - một trong những trung tâm toán học mạnh ở miền Trung - Tây Nguyên. Theo PGS.TS. Lê Công Trình (Đại học Quy Nhơn), ICTP đã đóng vai trò then chốt trong việc đào tạo các nhà nghiên cứu xuất sắc với chuyên môn quốc tế. Một trong những hỗ trợ đáng chú ý là việc ICTP đã giúp cho các giảng viên và sinh viên sau đại học của Khoa Toán và Thống kê có thể đăng ký tham gia chương trình Diploma của trung tâm này mà không yêu cầu chứng chỉ tiếng Anh quốc tế (một hạn chế phổ biến đối với sinh viên Toán học tại Đại học Quy Nhơn). Nhờ đó, sau khi hoàn thành chương trình Diploma, các học viên có thể đăng ký vào các chương trình Tiến sĩ tại châu Âu một cách dễ dàng hơn, góp phần đem lại các giảng viên có trình độ Tiến sĩ tại các cơ sở giáo dục quốc tế hàng đầu. Trong khi đó, "trước năm 2000, Khoa chưa có Tiến sĩ tốt nghiệp từ các trường quốc tế", PGS.TS. Lê Công Trình cho biết. Và nhờ những hợp tác này, các hướng nghiên cứu tại Đại học Quy Nhơn cũng trở nên đa dạng hơn, từ các nghiên cứu lý thuyết thuần túy đến nghiên cứu ứng dụng, nhờ vào việc các học viên được đào tạo tại các trung tâm nghiên cứu với các thế mạnh khác nhau.
Song song với việc nâng cao năng lực, ICTP đã mang lại hiệu quả cao trong việc thúc đẩy hội nhập quốc tế và thiết lập mạng lưới hợp tác trong khu vực. Trong nhiều năm, ICTP đã hỗ trợ rất nhiều hoạt động: bên cạnh một chuỗi các lớp học Quốc tế về Vật lý đã được tổ chức thành công tại Việt Nam từ năm 1995, ICTP còn giúp hình thành Mạng lưới Châu Á về các Hệ vật chất Ngưng tụ Phức tạp, giúp kết nối các viện nghiên cứu ở Hàn Quốc và các quốc gia Đông Nam Á. Nhiều lớp học và hội thảo trong khuôn khổ mạng lưới này đã được tổ chức thành công tại Việt Nam, Thái Lan, Philippines, và Hàn Quốc, có giá trị "cực kỳ hữu ích và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác nghiên cứu và hội nhập quốc tế cho Việt Nam", PGS.TS Trịnh Xuân Hoàng cho biết.
Thành công của ICTP cũng đã truyền cảm hứng cho các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam đặt trọng tâm lớn hơn vào khoa học và công nghệ. Nhờ đó, một số trung tâm khoa học khu vực như Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Toán học Quốc tế (ICRTM) và Trung tâm Vật lý Quốc tế (ICP) đã được thành lập dưới sự bảo trợ của UNESCO, tiếp tục góp phần giúp các nhà khoa học Việt Nam có thêm nhiều cơ hội mới. "Sự hỗ trợ, cơ hội, và cảm hứng mà ICTP mang lại đã trở thành nhân tố quan trọng và mang tính chuyển đổi đối với nhiều nhà khoa học Việt Nam, đặc biệt là các nhà khoa học trẻ. Những đóng góp này đã thúc đẩy sự phát triển đáng kể của vật lý tại Việt Nam. Nghiên cứu vật lý tại Việt Nam hiện nay đã ở một vị trí tốt hơn rất nhiều so với trước đây - rộng hơn, tiến bộ hơn, và hội nhập quốc tế hơn", PGS.TS Trịnh Xuân Hoàng nhìn nhận.
Bài đăng KH&PT số 1322 (số 50/2024)
Mỹ Hạnh

