Trong văn hóa đại chúng, người Việt vốn quen hình dung về cướp biển vùng Caribe hay Nhật Bản, Trung Hoa, Java. Tuy nhiên tư liệu lịch sử cho chúng ta thấy bức tranh thú vị khác về các thủ lĩnh hải tặc ở Việt Nam. Thậm chí, không mấy ai biết rằng Quang Trung vốn rất nổi danh với khả năng chế ngự và sai khiến những tay cướp biển sừng sỏ như Trịnh Nhất - kẻ mà người Thanh lẫn người phương Tây cũng phải ngán ngẩm.
Tuy nhiên, ông không phải là trường hợp duy nhất, mà là người cuối cùng trong lịch sử 1000 năm có khả năng "thống lĩnh" các hải tặc biển Đông của người Việt.
Thuyền buồm hải chiến trên đĩa Chu Đậu - Mỹ Xá thế kỷ 16. Nguồn: Art Gallery of South Australia
Trong lịch sử Đông Á, ranh giới giữa hải quân chính quy, thương nhân đi biển và hải tặc không phải lúc nào cũng rõ ràng. Nhiều nhóm người vừa buôn bán, đánh cá, vừa sẵn sàng tham chiến khi được một chính quyền bảo trợ hoặc khi lợi ích kinh tế thay đổi. Các chính quyền nhiều lần tận dụng những lực lượng hàng hải phi chính quy như một phần sức mạnh trên biển. Không chỉ ở Trung Quốc, Nhật Bản hay châu Âu, hiện tượng này cũng xuất hiện tại Đại Việt.
Dấu vết sớm của việc tận dụng lực lượng ven biển dưới thời Tiền Lê
Vị hoàng đế có mối liên quan với hải tặc đầu tiên có lẽ là vua Lê Hoàn. Thương mại đường biển giữa nhà Tống và các nước phương Nam phát đạt kéo theo sự trỗi dậy của nạn hải tặc nhắm vào các thành trấn giàu có ven biển, trong đó có sự tham gia tích cực của các thổ hào nước Đại Cồ Việt mới độc lập. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi nhận, vua Lê Hoàn đã phần nào để mặc hoặc tận dụng hoạt động của các lực lượng ven biển: "vua cậy có núi biển hiểm trở, hơi buông thả cho dân biên giới lấn cướp vào cõi của nhà Tống".[1]
Đã có lần, rất táo tợn, vào năm 995, biên dân nước ta đã đem hơn trăm thuyền chiến cướp bóc người và lương thực ở trấn Như Hồng của Khâm Châu nước Tống, rồi châu Tô Mậu của ta lại đem năm ngàn hương binh xâm lược Ung Châu của họ. [2]
Khi bị nhà Tống chất vấn, nhà vua trả lời: "Cướp trấn Như Hồng là bọn hải tặc ngoài nước tôi đó, hoàng đế (Tống) có biết rằng đó không phải quân Giao Châu hay không? Nếu Giao Châu mà làm phản, thì đầu tiên đánh Phiên Ngung (Quảng Châu), thứ đến đánh Mân Việt (Phúc Kiến), há chỉ Như Hồng trấn mà thôi?" [3]
Cuối thế kỷ X, ranh giới giữa "ngư dân", "thương nhân", "hải tặc" và "quân chính quy" trên Biển Đông còn rất mờ nhạt. Nhiều nhóm cư dân ven biển vừa buôn bán, đánh cá, vừa sẵn sàng chuyển sang cướp bóc hoặc tham gia chiến tranh khi có cơ hội. Hiện tượng này cũng diễn ra ở Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á.
Khi nhà Tống chất vấn, vua lập tức tuyên bố đây chỉ là "hải tặc ngoài nước tôi", chứ không phải quân Giao Châu. Điều đáng chú ý là lập luận của vua Lê Hoàn không chỉ là chối bỏ trách nhiệm mà còn mang tính răn đe chiến lược. Câu nói: "Nếu Giao Châu mà làm phản, thì đầu tiên đánh Phiên Ngung, thứ đến đánh Mân Việt, há chỉ Như Hồng trấn mà thôi?" hàm ý rằng nếu Đại Cồ Việt thực sự mở chiến tranh, mục tiêu sẽ là các trung tâm kinh tế lớn của nhà Tống chứ không chỉ một đồn trấn nhỏ. Đây vừa là lời phủ nhận, vừa là một cách phô trương khả năng quân sự.
Sự kiện này cũng cho thấy Đại Cồ Việt đã sớm nhận thức về ý nghĩa chiến lược của sức mạnh trên biển. Trong bối cảnh chưa thể đối đầu trực diện với đế quốc Tống, việc "hơi buông thả" khi các lực lượng phi chính quy ven biển tiến hành những cuộc tập kích chớp nhoáng là một lựa chọn ít tốn kém nhưng vẫn gây thiệt hại kinh tế và tâm lý đáng kể cho đối phương.
Không gian hàng hải nhiều biến động dưới thời Lý:
Chính sách này vẫn diễn ra dưới triều Lý, ít nhất là tới thời Lý Nhân Tông.
Tống Sử chép: "ban đầu Càn Đức (tên thật của Lý Nhân Tông) hẹn trả về khoảng một nghìn quan lại thuộc ba châu (của Tống). Thế nhưng rất lâu sau mới đưa trả 221 người dân. Nam từ 15 tuổi trở lên đều bị xăm trên trán dòng chữ "Thiên tử binh", những ai từ 20 tuổi trở lên thì xăm "Đầu Nam Triều" (đầu hàng triều đình phương Nam). Phụ nữ bị xăm trên tay trái hai chữ "Quan khách" (官客). Họ được chở bằng thuyền, nhưng cửa ra vào và cửa sổ đều bị trát kín bằng bùn, bên trong chỉ thắp đèn nến. Mỗi ngày thuyền chỉ đi được mười đến hai mươi dặm thì dừng lại, lại còn giả tiếng trống canh để báo giờ. Trải qua vài tháng mới tới nơi, thực chất là để đánh lừa họ rằng đường biển xa xôi cách trở."[2]
Thời Lý, hoạt động bắt cóc và buôn bán nô lệ giữa vùng biên giới nhà Tống và Đại Việt diễn ra rất sôi động, gián tiếp phản ánh nguồn vàng dồi dào và nhu cầu lao động, phục dịch của Đại Việt. Nhiều ghi chép nhà Tống cho biết cư dân vùng Ung Châu thường bị dụ dỗ hoặc bắt cóc rồi bán sang Đại Việt, mỗi người có giá từ 2–7 lạng vàng; những người có tay nghề hoặc biết chữ còn được trả cao hơn.
Hằng năm, số người bị mua bán lên tới hàng trăm nghìn theo ghi chép của sử liệu Tống. Tình trạng này được tiếp tay bởi một bộ phận quan lại địa phương nhận hối lộ, khiến nạn buôn người trở thành vấn đề nghiêm trọng đối với triều đình nhà Tống [3]
Phạm Tử Nghi: Một lực lượng hải quân ngoài chính quyền
"Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng"
Truyện Kiều mở đầu bằng hai câu thơ này. Tuy nhiên những năm Gia Tĩnh nhà Minh không hề phẳng lặng. Ở Chiết Đông, giặc Oa khấu (tiếng là giặc Nhật nhưng thực ra thủ lĩnh toàn là đám buôn lậu người Trung như Uông Trực, Từ Hải), ở mạc Bắc thì người Mông Cổ vẫn luôn quấy rối.
Ở Lĩnh Nam, Phạm Tử Nghi - một viên tướng Việt Nam - vừa chống nhà Mạc, vừa đem quân đánh phá lưỡng Quảng, "mạn Lĩnh Hải náo động". Trong mắt nhà Minh lúc ấy, Phạm Tử Nghi chính là một trùm hải tặc, tương tự Uông Trực, Từ Hải. Trong sử nhà Minh, nhân vật Từ Hải mất năm 1556, cùng thời với Phạm Tử Nghi, mất năm 1551.
Anh hùng chống Oa khấu của Trung Quốc là Du Đại Du từng tham gia chống Phạm Tử Nghi. Nhiều khí tài quân Minh bắt được của Phạm Tử Nghi còn được mang đi chống Oa. Sách Giao Lê tiễu phủ sự lược của tổng đốc Lưỡng Quảng khi ấy là Âu Dương Tất Tiến kể đã lưu lại các thuyền bắt được từ bọn man di (Phạm Tử Nghi), tân trang lại để vận lương và cho kỳ quân phòng chống Oa khấu cưỡi dùng. Đã có 15 chiếc thuyền to kiên cố và 5 chiếc thuyền vừa được tuyển chọn để thực hiện việc vận lương và phòng bị Oa khấu. [4]
Mô hình thuyền chiến thời Lê Trung Hưng.
Như vậy những ai mê Truyện Kiều hoàn toàn có thể tưởng tượng đến một kịch bản mà Từ Hải, Vương Thúy Kiều gặp Phạm Tử Nghi, dù ngoài đời khả năng việc đó là rất thấp.
Để minh chứng cho sự quan ngại của triều Minh, chúng tôi biết có ít nhất hai tư liệu viết riêng về cuộc chiến này, là An Nam Đồ Chí của tướng Minh Đặng Chung, và Giao Lê tiễu phủ sự lược/Giao Lê tiễu bình sự lược của tổng đốc Quảng Đông lúc ấy là Âu Dương Tất Tiến.
Mỗi tư liệu đính kèm hàng chục trang bản đồ của Quảng Đông và miền Bắc Đại Việt để người đọc có thể hình dung dễ dàng diễn biến chiến sự. Đây là những tài liệu quý để hiểu về hành trạng của Phạm Tử Nghi, cũng như hiểu hơn về binh khí, thuyền bè, chiến thuật của quân Đại Việt thời Nam Bắc triều. Tuy nhiên, nhân vật thú vị này lại chưa được nhiều người biết tới.
Sức mạnh của thủy quân Phạm Tử Nghi nằm ở thiết kế thuyền chiến và sự cơ động. An Nam đồ chí của tướng Minh là Đặng Chung cho hay: "Thuyền của giặc ở trong biển, tùy nơi đều có thể lên bờ cướp bóc, lục quân không thắng được trang bị đó của địch, thả quân ra truy đuổi đến nơi, chúng ắt đã nhanh nhẹn mà đi mất rồi" [5]
Đoạn này cho thấy thuộc hạ của Phạm Tử Nghi không phải là một toán hải tặc thông thường, mà là một lực lượng tác chiến đường biển có trình độ cao. Lực lượng của ông làm chủ vùng biển, không phụ thuộc vào một căn cứ cố định mà hoạt động cơ động dọc bờ biển Quảng Đông – Quảng Tây. Họ lựa chọn mục tiêu rồi bất ngờ đổ bộ, dựa vào chiến thuật đánh nhanh rút nhanh.
Người Minh thừa nhận lục quân hoàn toàn bị động trước kiểu chiến tranh này. Không phải quân Minh đánh không lại Phạm Tử Nghi trên chiến trường, mà là không có phương tiện hữu hiệu để đối phó. Phạm Tử Nghi hoàn toàn có thể hôm nay xuất hiện ở Khâm Châu, vài hôm sau có thể đánh Liêm Châu rồi lại biến mất ngoài biển. Điều này khiến Minh triều gần như không thể dự đoán hướng tiến công.
Bản đồ Vân Đồn trong Giao Lê tiễu phủ sự lược.
Trớ trêu thay, người mà nhà Minh nhiều năm truy lùng, e ngại vì tài thao lược trên biển, cuối cùng lại không gục ngã trước quân Minh. Dưới sức ép của những chiến dịch do các danh tướng nhà Mạc, đứng đầu là Mạc Kính Điển, Phạm Tử Nghi đã bỏ mạng dưới lưỡi gươm của chính đồng bào mình.
Số phận ấy là minh chứng cho một quy luật nghiệt ngã của lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI, khi những cuộc nội chiến đã cướp đi sinh mạng của không ít anh hùng từng làm những đế quốc lớn phải điên đảo.
Dưới thời Tây Sơn: Từ hải tặc đến đồng minh quân sự
Do đặc trưng địa lý của nước ta, thủy binh trở nên một phần thiết yếu của đa phần các cuộc chiến. Thật vậy, trong hơn ba mươi năm chiến tranh, ta có thể thấy các phe Tây Sơn và chúa Nguyễn chủ yếu dùng thủy quân để cơ động dọc đất nước. Hầu hết các chiến dịch, như Tây Sơn chiếm Phú Xuân, đánh ra Bắc Hà, vào Gia Định, hay chúa Nguyễn đánh ra Bắc, đều không thể thiếu thuyền chiến.
Một con tàu Ô Quảng Đông thế kỷ 19. Nguồn: ifeng.
Thấy được viễn cảnh đó, từ buổi đầu, quân khởi nghĩa Tây Sơn đã nhanh nhạy chiêu dụ các lực lượng hải tặc Nam Hoa để tận dụng sức lực và sở trường của họ.
Trong thế kỷ XVIII, hải tặc giữ một vai trò nền tảng trong phong trào Tây Sơn. Họ tạo thành lực lượng nòng cốt của hạm đội Tây Sơn. Đổi lại việc sử dụng lực lượng vũ trang của mình để chống lại quân Trịnh và quân Nguyễn Ánh, các toán hải tặc được phép trú ẩn tại các hải cảng của Việt Nam và được tự do hoạt động.
Từ cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, các toán hải tặc người Hoa và người Việt hoạt động dọc theo bờ biển Việt Nam, xuất phát từ cảng Giang Bình ở miền Bắc Việt Nam. Đây là một căn cứ hải tặc và trung tâm chợ đen lớn, từ đó các tàu chiến hải tặc được chính quyền Tây Sơn cấp phép xuất phát để tiến hành các cuộc tập kích.
Đến khi phong trào Tây Sơn bị đánh bại vào năm 1802, có hơn 50.000 hải tặc đang hoạt động trên Biển Đông. Theo các tư liệu của Việt Nam và Pháp, tàu thuyền châu Âu thường xuyên trở thành mục tiêu cướp bóc của hải tặc.[6]
Theo Tĩnh Hải phần kí, "Bấy giờ, hải tặc có bọn Trịnh Thất và Đông Hải Bá. Mạch Hữu Kim cũng quy phục theo họ. Cảnh Thịnh (vua Tây Sơn kế vị Quang Trung) ban cho Trịnh Thất chức tước của nước mình, phong làm Đại Tư Mã. Trịnh Thất có 200 thuyền, thuộc hạ đều dũng mãnh, thiện chiến. Cảnh Thịnh khuyến khích Trịnh Thất khởi binh, giúp mình phục quốc. Trịnh Thất thuận theo" [7]
Tuy là hải tặc, nhưng thuyền chiến của các thủ lĩnh được nhà Tây Sơn phong chức "tổng binh" lại khiến hải quân Thanh phải nể sợ. Thánh Vũ Ký nhận định: "thuyền di cao to lại nhiều pháo, quân ta gặp chưa chắc đã thắng được"[8]
Cũng theo sách này, hạm đội Tây Sơn thời kỳ đầu bao gồm các dạng pháo thuyền Quảng Đông như Ô Tàu (烏艚) mà hải tặc ưa chuộng: "Năm đầu Gia Khánh, Phúc Châu tướng quân Khôi Luân, Lưỡng Quảng tổng đốc Cát Khánh trước sau tấu rằng bắt được thuyền Ô Tàu của giặc biển Trần Thiên Bảo, có ấn sắc An Nam tổng binh và Bảo Ngọc hầu". Đây là dạng thuyền lớn, hai cột buồm, chở được nhiều pháo, đi biển rất vững chãi.
Đáng chú ý, Tĩnh Hải Phân Kí của học giả Quảng Đông là Viên Vĩnh Luân cùng thời cho thấy một vài nhóm hải tặc Nam Hoa như Tổng binh Bảo Ngọc hầu Trần Thiên Bảo không phải là một đám trộm cướp vô tổ chức, mà có kỷ luật nghiêm ngặt, có những điều lệ nghĩa khí kiểu giang hồ, thưởng phạt nghiêm minh: cấm đào ngũ và xử tử người bỏ trốn, Chiến lợi phẩm được tập trung vào công quỹ rồi phân phối lại, thay vì ai cướp được nấy giữ, trả tiền sòng phẳng cho dân buôn để duy trì hậu cần lâu dài, cấm cưỡng hiếp phụ nữ, nhằm duy trì kỷ luật và hạn chế sự thù địch từ cư dân địa phương.
Nguyên văn như sau: "Bảo có được đông đảo thuộc hạ, hằng ngày đều tiến hành cướp bóc, vì thế đồng đảng ngày càng đông, tàu thuyền cũng ngày càng nhiều. Ông bèn tự đặt ra ba điều lệnh: Thứ nhất, kẻ nào lên bờ trốn riêng, gọi là "phản quan". Nếu bị bắt về thì xỏ thủng tai, thị uy khắp các thuyền; đi hết rồi giết ngay. Thứ hai, phàm cướp được hóa vật, không được giữ riêng; phải đem ra để mọi người duyệt. Người cướp được hưởng hai phần, còn tám phần phải nộp kho. Phần nộp kho này gọi là của công. Ai biển thủ thì lập tức xử tử. Thứ ba, khi đến các làng mạc cướp bóc và bắt được phụ nữ, đưa xuống thuyền thì không được làm nhục. Tất cả đều ghi tên vào sổ, bố trí ở khoang cách biệt. Ai phạm tội cưỡng gian hoặc tư thông đều bị xử tử ngay.
Bảo còn lo ngại nguồn lương thực bị gián đoạn. Hương dân ham lợi đem rượu, gạo và hàng hóa đến tiếp tế, ông ta đều trả cao gấp mấy lần lợi nhuận. Kẻ nào tự tiện cưỡng đoạt đều bị xử tử. Nhờ đó, thuốc gạo luôn đầy đủ, không bao giờ thiếu hụt. Đó là kẻ biết lấy thưởng phạt, quyền lực chế phục thuộc hạ vậy" [9]
Những quy định này góp phần lý giải vì sao các tập đoàn hải tặc cuối thế kỷ XVIII, như lực lượng của Trần Thiên Bảo, có thể phát triển thành những hạm đội hàng trăm chiến thuyền và hàng vạn người, đủ sức trở thành đồng minh quân sự quan trọng của nhà Tây Sơn.
Từ những toán cướp biển phân tán, nhà Tây Sơn đã biết tổ chức, phong chức tước, cấp ấn tín và từng bước chuyển hóa họ thành một lực lượng hải quân có khả năng đối đầu với cả hạm đội triều Thanh lẫn chúa Nguyễn.
Thay lời kết
Từ những cuộc tập kích biên hải dưới thời Lê Hoàn, các hoạt động bắt người vùng duyên hải của nhà Tống thời Lý, lực lượng thủy quân của Phạm Tử Nghi khiến nhà Minh phải đau đầu, cho đến việc Quang Trung thu nạp các tập đoàn hải tặc Nam Hoa làm nòng cốt cho hạm đội Tây Sơn, có thể thấy cùng một tư duy chiến lược của một số vị hoàng đế. Khi không thể cạnh tranh trực diện với một đế quốc có ưu thế áp đảo về nhân lực và tài lực như Trung Hoa, họ lựa chọn hợp tác với những toán hải tặc cho mục đích của mình. Với khả năng cơ động cao, thông thuộc hải trình và giàu kinh nghiệm tác chiến ven biển, trở thành một thứ "lực lượng bất đối xứng", vừa làm tiêu hao nguồn lực, vừa gieo bất ổn dọc vùng duyên hải của các triều Tống, Minh và Thanh.
Vì vậy, nếu chỉ xem họ là những tên cướp biển ngoài vòng pháp luật thì chưa đủ. Trong một số thời kỳ, họ còn là những tàu chiến tư nhân được các triều đại Việt bảo trợ hoặc khai thác như một công cụ chiến lược ở vùng đệm.
Đến đầu thế kỷ XIX, hải tặc trên Biển Đông dần đi vào thoái trào. Đây là kết quả của nhiều biến đổi chính trị và quân sự diễn ra đồng thời. Lần đầu tiên trong nhiều thế kỷ, triều Nguyễn và nhà Thanh có chung lợi ích trong việc quét sạch hải tặc. Gia Long cần ổn định vùng biển để khôi phục thương mại và củng cố chính quyền, trong khi nhà Thanh cũng muốn chấm dứt tình trạng cướp biển hoành hành tại Quảng Đông và Quảng Tây. Hai nước tăng cường hợp tác truy quét, khiến các căn cứ và mạng lưới hậu cần của hải tặc dọc hai bờ Vịnh Bắc Bộ lần lượt bị xóa sổ.
Đến giữa thế kỷ XIX, sự xuất hiện của tàu hơi nước, pháo binh hiện đại và hải quân phương Tây càng làm thay đổi hoàn toàn cán cân sức mạnh trên biển. Những hạm đội hải tặc vốn dựa vào thuyền buồm và chiến thuật áp sát không còn đủ sức đối đầu với các lực lượng hải quân chính quy.
--
Tài liệu tham khảo:
[1] Ngô Sĩ Liên, "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư", 1697
[2] Thác Khắc Thác 托克托, "Tống sử, Liệt truyện đệ nhị bách tứ thập thất, ngoại quốc tứ" 宋史 - 列傳第二百四十七外國四,
[3] Trần Quang Đức, Ngàn năm áo mũ (Hà Nội: Nhà xuất bản Thế giới, 2013), tr. 51.
[4] Giao Lê tiễu bình sự lược 交黎剿平事畧, Âu Dương Tất Tiến 歐陽必進, tr.134
[5] An Nam Đồ Chí 安南圖誌, Bình Giao Đồ thuyết, Đặng Chung 鄧鐘, tr.35,
[6] Charlotte Minh Hà Pham, "Văn hóa hàng hải của xứ Đàng Trong: biển Đông, các tuyến hàng hải, hành trình và thuyền trong thời kỳ tiền thực dân ở Trung Bộ Việt Nam", 2016, tr. 271.
[7] Viên Vĩnh Luân 袁永綸, Tĩnh Hải Phân Kí 靖海氛記, 1830,
[8] Thánh Vũ Ký - Càn Long chinh phủ An Nam ký 聖武記, Ngụy Nguyên 魏源,
[9] Viên Vĩnh Luân 袁永綸, Tĩnh Hải Phân Kí 靖海氛記, 1830,