Lãnh đạo Bộ KH&CN khẳng định quyết tâm tháo gỡ những điểm nghẽn đang cản trở bước tiến của khoa học Việt Nam, từ sự lúng túng của bộ máy sau sáp nhập, tình trạng ngân sách phân tán, giải ngân chậm cho đến hiệu quả thương mại hóa nghiên cứu còn hạn chế.
![]() |
Một số robot tại triển lãm của Đại hội. Ảnh: Lê Đình Tùng |
Đại hội Đảng bộ Bộ KH&CN lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025-2030 vừa được tổ chức vào ngày 16/8 đã đánh dấu mốc quan trọng cho nhiệm kỳ đầu tiên của Bộ KH&CN sau khi sáp nhập với Bộ TT&TT, cũng như là nhiệm kỳ đầu tiên thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. "Việc hợp nhất hai bộ Bộ KH&CN và Bộ TT&TT là để tạo ra sức mạnh cộng hưởng, để xóa đi ranh giới giữa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, công nghiệp công nghệ số và hạ tầng số. Việc hợp nhất này đòi hỏi một cách tiếp cận mới, cách làm mới. Và chỉ có như vậy thì việc hợp nhất này mới tạo ra giá trị", Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh tại Đại hội.
Với tâm thế ấy, rất nhiều mục tiêu cho nhiệm kỳ mới đã được đặt ra trong Đại hội với kỳ vọng có thể giải quyết được các bài toán chiến lược quốc gia như thúc đẩy tăng trưởng hai con số, triển khai hiệu quả mô hình chính quyền hai cấp, nâng cao chất lượng thể chế, chất lượng nguồn nhân lực, hạ tầng, chất lượng dịch vụ công và chất lượng sản phẩm.
Trước Đại hội, ngay sau khi hai Bộ sáp nhập, Bộ KH&CN đã rất khẩn trương xây dựng và trình Quốc hội thông qua 5 luật/luật sửa đổi quan trọng: Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo; Luật Công nghiệp Công nghệ số; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (sửa đổi); Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (sửa đổi) và Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi). Và từ nay đến kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Bộ KH&CN sẽ tiếp tục xây dựng bốn dự thảo luật quan trọng khác là: Luật Chuyển đổi số, Luật Công nghệ cao, Luật Sở hữu trí tuệ, và Luật Chuyển giao công nghệ.
"Trước đây, trong một nhiệm kỳ 5 năm, Bộ KH&CN chỉ làm một, hai luật. Nhưng riêng năm 2025, Bộ KH&CN đã được Thủ tướng Chính phủ giao làm 10 luật - gấp năm lần của một nhiệm kỳ 5 năm", Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết. Bên cạnh các luật, danh mục 11 công nghệ chiến lược cũng đã được Bộ KH&CN ban hành, tập trung vào các lĩnh vực then chốt, có ảnh hưởng sâu rộng đến năng lực cạnh tranh và tự chủ công nghệ của quốc gia. Những bước chuyển biến này đã cho thấy quyết tâm cao cũng như cách tiếp cận mới của Bộ KH&CN trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo ra những đột phá về thể chế chính sách của ngành.
Bộ KH&CN sẽ hoàn thiện hệ thống luật, nghị định một cách đồng bộ, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực quốc tế, biến khung pháp lý thành lợi thế cạnh tranh quốc gia. Cùng với đó, thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho công nghệ mới |
Kỳ vọng và thách thức
Trong buổi làm việc giữa Bộ KH&CN và Bộ GD&ĐT với Đại học Bách khoa Hà Nội cách đây không lâu, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đã chia sẻ trăn trở: "Nghiên cứu phải gắn với sản phẩm, gắn với doanh nghiệp, và cuối cùng là góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Nhà nước chi một đồng cho viện nghiên cứu thì viện nghiên cứu ấy phải tạo ra 0,1 đến 0,2 đồng từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu này đến doanh nghiệp thì phải tạo ra từ 5 đến 10 đồng doanh thu, tương đương với 2 đến 4 đồng GDP. Hiện nay chúng ta chưa nhìn vào kết quả cuối cùng như vậy".
Thực tế này cũng là lý do trong nhiệm kỳ mới, Bộ KH&CN đã đặt ra hàng loạt con số rất cụ thể: phấn đấu đến hết nhiệm kỳ, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp 5% GDP, kinh tế số đạt tỷ trọng 30% GDP. Bộ cũng đặt ra nhiều mục tiêu trong tất cả các lĩnh vực: hoàn thiện hạ tầng số và khoa học, công nghệ hiện đại, bảo đảm 100% dân số được phủ sóng 5G, triển khai thí điểm 6G, tốc độ truy cập internet di động đạt 200 Mbps và cố định đạt 400 Mbps; xây dựng 100 trung tâm đổi mới sáng tạo, trong đó ít nhất 6 trung tâm đạt tầm khu vực; xây dựng 1 trung tâm siêu tính toán quốc gia; chỉ số tích hợp phát triển bưu chính vào nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới.
Cùng với đó, Bộ sẽ đưa vào vận hành sàn giao dịch công nghệ quốc gia, sàn vốn khởi nghiệp đổi mới sáng tạo kết nối với ít nhất 10 quốc gia; bảo đảm 40% kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ được thương mại hóa hoặc ứng dụng thực tế; hỗ trợ tối thiểu 1.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ và 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ. Một mục tiêu khác cũng được đưa ra là hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia bảo đảm đạt tỷ lệ 90% tổng số tiêu chuẩn cần ban hành, tỷ lệ tiêu chuẩn hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế đạt 80%; phấn đấu 100% sản phẩm công nghệ chiến lược có tiêu chuẩn, quy chuẩn; số đơn đăng ký sáng chế từ Việt Nam tăng gấp ba lần, đạt 20 đơn trên một triệu dân.
Đối với lĩnh vực năng lượng, nhiệm kỳ mới cũng hướng tới việc triển khai hiệu quả chương trình phát triển năng lượng nguyên tử; xây dựng lò nghiên cứu mô-đun nhỏ (SMR), hoàn thành Lò nghiên cứu hạt nhân mới tại Đồng Nai; chuẩn bị đầy đủ nhân lực thực hành cho nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận. Và để xây dựng lực lượng phục vụ cho việc phát triển khoa học công nghệ, Bộ cho biết sẽ đào tạo 50.000 kỹ sư trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, năng lượng nguyên tử, tiêu chuẩn hóa; thu hút 500 chuyên gia quốc tế và trí thức kiều bào làm việc dài hạn tại Việt Nam. Đồng thời, bảo đảm làm chủ tối thiểu 70% công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Triển khai Chương trình quốc gia phát triển nhân tài khoa học công nghệ và công nghiệp công nghệ số, thu hút chuyên gia toàn cầu cũng như người Việt Nam ở nước ngoài. Cơ chế đặc thù về lương, thưởng và quyền sở hữu trí tuệ cho nhà khoa học, chuyên gia công nghệ sẽ được thí điểm. |
"Đặt ra mục tiêu cao, đề ra giải pháp lớn" là những trọng tâm của nhiệm kỳ lần này, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh. Yêu cầu đó chắc chắn không hề dễ dàng trong bối cảnh nền KH&CN của Việt Nam vẫn đang phải giải quyết nhiều thách thức và điểm nghẽn gây khó khăn cho không chỉ các nhà nghiên cứu tại viện, trường mà còn cho cả các doanh nghiệp.
Báo cáo của Đảng bộ Bộ KH&CN cho thấy, quá trình triển khai nhiệm vụ trong thời gian qua vẫn gặp hàng loạt vướng mắc. Trước hết phải nhắc đến vấn đề thể chế và chính sách: việc sửa đổi, bổ sung luật còn chậm, nhiều quy định chỉ dừng ở mức nguyên tắc, thiếu tính khả thi, trong khi cơ chế quản lý vẫn phân mảnh, chồng chéo giữa các luật liên quan. Đáng chú ý, đến nay vẫn chưa có chính sách đặc thù cho một số công nghệ chiến lược. Ông Nguyễn Phú Bình, Ban chủ nhiệm Chương trình KC 12 "Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học", trong cuộc họp bàn về sửa đổi Nghị định 70 vào tháng 12/2023, đã thành thật chia sẻ suy nghĩ của mình: "Không phải người ta làm ra luật kém đến mức không dùng được mà ở đây là vướng luật, thứ nhất là Luật Quản lý tài sản công, thứ hai là Luật Ngân sách, thứ ba Luật Kiểm toán, thứ tư là Luật KH&CN. Làm gì thì làm, thông tư nghị định phải theo hệ thống luật. Cái này chưa gỡ được, nếu tất cả chúng ta thay đổi luật thì còn rất lâu".
Không chỉ vậy, sau sáp nhập, tổ chức bộ máy vận hành chưa đồng bộ, nhiều đơn vị giữ lối làm việc cũ, thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả. Việc kết hợp khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn đo lường chất lượng chưa phát huy đúng mức. Phối hợp với các bộ, ngành, địa phương trong triển khai chương trình KHCN - ĐMST - CĐS vẫn còn lỏng lẻo, nặng thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, nguồn lực và tài chính cũng là điểm nghẽn lớn. "Ngân sách phân tán, giải ngân chậm, tỷ lệ chi cho nghiên cứu và đổi mới trong doanh nghiệp thấp. Cơ chế tự chủ ở các tổ chức công lập chậm hoàn thiện, hạn chế khả năng thu hút nhân tài, khai thác tài sản trí tuệ. Trong khi đó, cơ chế khuyến khích đầu tư ngoài ngân sách cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa đủ mạnh", báo cáo chỉ ra.
"Vì sao tốc độ giải ngân của chúng ta không tốt? Vì quy định của Bộ Tài chính về cơ chế chi tiêu cho các đề tài khoa học quá khắt khe", PGS. TS Đinh Hồng Hải (Khoa Nhân học và Tôn giáo, Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN) nêu trong một cuộc họp của Quỹ NAFOSTED vào ngày 28/11/2024. Những quy định quá chặt chẽ trong khung quản lý tài chính dòng ngân sách đầu tư khiến cho các nhà khoa học phải tìm cách lách. "Hôm qua chúng tôi mới quyết định mua một chiếc máy tính giá 72 triệu đồng, nhưng phải chia làm hai hóa đơn bởi theo quy định mua sắm thiết bị trên 50 triệu thì phải đấu thầu, phức tạp lắm", GS. Lê Văn Nghị, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về Động lực học sông biển, cho biết trong hội thảo ngày 9/5/2025.
Chưa kể đến, hiệu quả thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng còn thấp, mối liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp vẫn lỏng lẻo. Hệ sinh thái khởi nghiệp dù mở rộng nhưng phân bố không đồng đều, thiếu quỹ đầu tư mạo hiểm và sàn giao dịch công nghệ tầm quốc gia. Chuyển đổi số trong khoa học công nghệ cũng mới ở giai đoạn khởi đầu, chưa khai thác hiệu quả dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Có thể nhìn thấy rõ thực tế này khi phân tích trường hợp của Đại học Bách khoa Hà Nội - một trung tâm đào tạo kỹ thuật hàng đầu cả nước. Đại học này hiện sở hữu nhiều trung tâm nghiên cứu xuất sắc, tiêu biểu như Trung tâm Nghiên cứu liên ngành về Công nghệ cao (INCHEM), nơi phát triển các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực vật liệu, sinh học, robot... và Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Trí tuệ nhân tạo (BKAI) - trung tâm công lập đầu tiên tại Việt Nam có năng lực toàn diện về nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo AI, được các tập đoàn công nghệ lớn tài trợ. Song, dù số lượng đề tài và bài báo quốc tế hằng năm ở mức cao, tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại trường này vẫn còn thấp. Mỗi năm, doanh thu từ chuyển giao công nghệ chỉ đạt khoảng 20 tỷ đồng, chiếm 1% tổng doanh thu của trường - thấp hơn nhiều so với mức trung bình tại các đại học nghiên cứu trên thế giới (thường gấp 5-10 lần).
Một phần nguyên nhân của vấn đề trên cũng bắt nguồn từ việc lĩnh vực sở hữu trí tuệ cũng còn bất cập: số lượng sáng chế, giải pháp hữu ích ít, trong khi việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ chưa mạnh. Bên cạnh đó, khoảng cách giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa, nhỏ còn lớn, cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế, trong khi hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn cho nhiều sản phẩm, công nghệ mới và chuyển đổi số chưa hoàn thiện, gây khó cho việc liên thông dữ liệu và tích hợp hệ thống ở tầm quốc gia.
Những giải pháp trọng tâm
"Thiếu môi trường học thuật lành mạnh và chuyên nghiệp, hệ thống các cơ sở nghiên cứu sẽ bị xơ cứng bởi cơ chế hành chính hóa, đồng thời là mảnh đất nảy sinh các tiêu cực. Một môi trường như vậy sẽ không tạo thuận lợi cho sự ra đời các phát minh, sáng chế, và khó mà có đổi mới sáng tạo", GS. TS Trần Đức Viên (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) chia sẻ trong một bài viết trên KH&PT. Từ góc nhìn của nhà khoa học này, việc tạo lập môi trường làm việc giảm thiểu yếu tố hành chính, đề cao tự do nghiên cứu và cởi mở trong các mối quan hệ; bỏ qua các cơ cấu hành chính rườm rà và thủ tục quan liêu sẽ giúp nghiên cứu "cất cánh".
Với tinh thần tiếp thu những góp ý và tâm tư của các nhà khoa học, các nhà quản lý của Bộ KH&CN đã đưa ra rất nhiều nhiệm vụ quan trọng trong nhiệm kỳ mới. Trước hết, về thể chế và chính sách, Bộ KH&CN sẽ hoàn thiện hệ thống luật, nghị định một cách đồng bộ, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực quốc tế, biến khung pháp lý thành lợi thế cạnh tranh quốc gia. Cùng với đó, thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho công nghệ mới - cơ chế được nhiều khoa học và doanh nghiệp mong đợi từ lâu - và ban hành chính sách mua sắm công ưu tiên sản phẩm khoa học công nghệ và công nghiệp công nghệ số trong nước, tạo thị trường đầu ra bền vững.
![]() |
Các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt trao đổi với các nhà nghiên cứu quốc tế tại phòng điều khiển lò phản ứng Đà Lạt. |
Về hạ tầng chiến lược, Bộ định hướng đầu tư siêu máy tính, hạ tầng tính toán hiệu năng cao và Trung tâm Dữ liệu Quốc gia phục vụ AI, khoa học dữ liệu và mô phỏng khoa học - kỹ thuật. Song song với đó là phát triển mạng 5G/6G, xây dựng nền tảng số quốc gia dùng chung, hạ tầng bưu chính - viễn thông bảo đảm phủ khắp, an toàn, và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, nhất là cho công nghệ mới và sản phẩm xuất khẩu. Trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, trọng tâm là thiết kế các gói ưu đãi về thuế, tín dụng và vốn mạo hiểm cho doanh nghiệp khoa học công nghệ, công nghiệp công nghệ số và khởi nghiệp sáng tạo. Bộ cũng đề xuất thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm đồng đầu tư giữa Nhà nước và tư nhân cho các dự án chiến lược, đồng thời tăng cường liên kết viện - trường - doanh nghiệp để thúc đẩy nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ.
Nguồn nhân lực cũng được xem là yếu tố then chốt. Bộ đặt mục tiêu triển khai Chương trình quốc gia phát triển nhân tài khoa học công nghệ và công nghiệp công nghệ số, thu hút chuyên gia toàn cầu cũng như người Việt Nam ở nước ngoài. Cơ chế đặc thù về lương, thưởng và quyền sở hữu trí tuệ cho nhà khoa học, chuyên gia công nghệ sẽ được thí điểm. Bên cạnh đó, giáo dục STEM/STEAM và đào tạo kỹ năng số được đẩy mạnh ở mọi cấp học. Đặc biệt, việc phổ cập "ba ngôn ngữ" - tiếng Việt, tiếng Anh và ngôn ngữ số - cho toàn dân được coi là nền tảng để hội nhập.
Về hội nhập và hợp tác quốc tế, Bộ chủ trương ký kết các thỏa thuận hợp tác chiến lược với những quốc gia đi đầu trong khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp công nghệ số và năng lượng nguyên tử. Bên cạnh đó là thu hút các tập đoàn công nghệ toàn cầu đặt trung tâm R&D tại Việt Nam và chủ động tham gia chuỗi giá trị công nghệ cũng như hệ thống tiêu chuẩn quốc tế.
Cuối cùng, về quản trị và chuyển đổi số nội bộ, Bộ sẽ triển khai chuyển đổi số toàn diện trong cơ quan và các đơn vị trực thuộc. Việc áp dụng quản trị số, dữ liệu thời gian thực để điều hành, giám sát nhiệm vụ khoa học công nghệ, cùng với số hóa và minh bạch toàn bộ quy trình quản lý dự án và ngân sách, được coi là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý. "Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là xu thế, mà là con đường tất yếu để Việt Nam vươn lên trong kỷ nguyên mới, trở thành quốc gia phát triển, giàu mạnh", Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh tại Đại hội. "Không bao giờ thỏa mãn với những gì mình có, vượt qua giới hạn của bản thân mình, là điều rất quan trọng trong làm khoa học".
Thực tế, có không ít các giải pháp tương tự đã được chúng ta kêu gọi trong vòng hai thập kỷ qua, "nhưng tiếc rằng chúng ta không nhìn thấy nhiều chuyển biến trong việc thực hiện", GS. Pierre Darriulat nhận xét trong một bài viết về Nghị quyết 57 trên Tia Sáng. Từ góc nhìn của nhà vật lý thiên văn lỗi lạc đã có hàng chục năm gắn bó với khoa học ở Việt Nam, "cái chúng ta cần không chỉ là số hóa, dữ liệu lớn, internet vạn vật, điện toán đám mây, 5G và 6G, chúng ta cần một tư duy có trách nhiệm, là khao khát soi xét các vấn đề một cách thấu đáo và chuyên nghiệp, với trí tuệ và liêm chính. Thiếu điều này, chúng ta sẽ thất bại như đã từng xảy ra".
Một số kết quả nổi bật nhiệm kỳ vừa qua - Trên bản đồ đổi mới sáng tạo toàn cầu, Việt Nam có 5/7 trụ cột tăng hạng, trong đó cơ sở hạ tầng tăng 14 bậc, trình độ phát triển thị trường tăng 6 bậc. - Năm 2024, Việt Nam nằm trong nhóm 10 nước dẫn đầu về tăng năng suất lao động, số ứng dụng di động và tỷ lệ chi nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam xếp hạng 44/133 nền kinh tế, tăng 4 bậc so với 2022. Số công bố quốc tế tăng 22,4% so với 2020. - Chỉ số Phát triển con người của Việt Nam tăng từ 0,703 năm 2021 lên 0,766 năm 2023, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có mức phát triển con người cao.- Khoa học tự nhiên ghi dấu bước tiến vượt bậc trong nghiên cứu cơ bản, mở ra các lĩnh vực đa ngành mới như vũ trụ, y sinh, nano, hạt nhân; đồng thời giữ vững thế mạnh về toán học, vật lý, hóa học. - Khoa học kỹ thuật và công nghệ ứng dụng đã làm chủ nhiều công nghệ then chốt, đưa vào sản xuất, giúp nâng cao năng lực doanh nghiệp, tăng tỷ lệ nội địa hóa và giảm giá thành sản phẩm. Trong nông nghiệp, nhiều giống cây trồng mới, năng suất cao, kháng bệnh tốt đã ra đời, mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội. Lĩnh vực y – dược khẳng định năng lực làm chủ công nghệ sản xuất vaccine, ghép hầu hết các tạng phức tạp. |
Bài đăng KH&PT số 1358 (số 34/2025)
Mỹ Hạnh

