Theo Nguyên sử, năm 1301, chỉ ít lâu sau chiến thắng Bạch Đằng năm 1288, đại thần nhà Nguyên là Hoàn Trạch cáo buộc sứ thần Đại Việt làm gián điệp quân sự/công nghệ, gây ra sóng gió trong quan hệ ngoại giao hai nước [1].
Cáo buộc của Hoàn Trạch có lẽ không phải vô căn cứ, bởi sau khi vị sứ thần này về nước, công nghệ quan trắc thiên tượng và lĩnh vực khoa học thiên văn, lịch pháp của nhà Trần đã nở rộ. Đáng tiếc thay, chính sử nước nhà lại không ghi chép một dòng nào về ông, sứ thần Đặng Nhữ Lâm (鄧汝霖).
Tái hiện trang phục của một vị quan tháp tùng vua Trần Anh Tông trong tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ. Nguồn: Dự án Điểm Ảnh Đan Thanh
Mắc đọa ở triều Nguyên
Một trong những quân bài của đế quốc Mông Cổ mênh mông là mạng lưới điệp báo hiệu quả rộng khắp. Để đối phó với họ, nhà Trần hẳn cũng phải đấu tranh trên mặt trận tình báo.
Sự kiện năm 1301 không phải sự kiện đầu tiên về tình báo nhà Trần được chép trong Nguyên sử. Bộ chính sử này còn chép về một sự kiện khác, xảy ra trước đó hàng chục năm, liên quan đến việc nhà Nguyên dụ vua Trần Thánh Tông giao nộp các lái buôn người Hồi Cốt đang ở Đại Việt, vì sợ triều Trần dò xét tình hình Tây vực của đế quốc Nguyên Mông qua họ. Vua Trần Thái Tông thượng thư trần tình: "thương lái Hồi Cốt có một người tên Y Ôn, chết đã lâu, một người tên Bà Bà, khi tìm thấy thì cũng đã bệnh chết" để khước từ giao nộp" [1].
Người Hồi Cốt (回鶻), hay Uyhgur, là một dân tộc du mục ở Trung Á, tổ tiên của dân tộc Duy Ngô Nhĩ hiện nay. Trong lịch sử, họ đóng vai trò là thương lái và chiến binh, với phạm vi hoạt động rất rộng. Đối với nhà Trần, những lái buôn Hồi Cốt là những nguồn tin tình báo đắc lực để nắm rõ nội tình đế quốc Mông Cổ, chẳng hạn như việc sau khi Đại hãn Mông Kha chết trận năm 1259, đế quốc này bị xé lẻ thành các Hãn quốc kình chống nhau, bao gồm: Hãn quốc Kim Trướng (ở Nga và Đông Âu), Hãn quốc Sát Hợp Đài ở Trung Á, Hãn quốc Y Nhi ở Iran và Trung Đông, và triều Nguyên ở Trung Quốc.
Về phần Đặng Nhữ Lâm, nhà Nguyên đã cáo buộc ông làm gì? "Vẽ trộm bản đồ cung uyển, mua riêng dư địa đồ và các loại sách cấm, lại còn sao chép văn thư chinh chiến ở An Nam, cùng với chép riêng quân tình biên cương phía Bắc và sự tình sơn lăng (nơi chôn Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt)" (大德五年二月,太傅完澤等奏安南來使鄧汝霖竊畫宮苑圖本,私買輿地圖及禁書等物,又抄寫陳言征收交趾文書,及私記北邊軍情及山陵等事宜 ) [1].
Nếu gạt sang một bên việc những cáo buộc này có hoàn toàn đúng hay không, thì nội dung của chúng cho thấy nhà Nguyên tin rằng Đặng Nhữ Lâm đã tìm cách thu thập có hệ thống các loại tri thức chiến lược, gồm: tri thức địa lý (bản đồ), tri thức khoa học - kỹ thuật (các sách cấm, có thể gồm lịch pháp), tri thức quân sự (văn thư chiến tranh, tình hình biên phòng), tri thức về bố phòng và quy hoạch (cung uyển, sơn lăng). Đó đều là những là bí mật quốc gia của mỗi nước.
Trong điều kiện hai nước vừa mới dứt binh đao chưa đầy 25 năm, những cáo buộc làm gián điệp có thể khiến Đặng Nhữ Lâm phải chịu những đại hình tàn khốc, thậm chí là mất mạng.
Nhà Nguyên đã ứng xử ra sao? Họ sai sứ thần mang chiếu thư nói về đại nghĩa sang trách tội. Sứ thần gồm Lễ bộ thượng thư (người đứng đầu bộ Lễ) Mã Hợp Mã, Lễ bộ thị lang (cấp phó của thượng thư) Kiều Tông Lượng. Lời dụ trong thư đại ý là: "hành vi của Nhữ Lâm không hợp pháp, đáng bị trị tội đến cùng, nhưng Trẫm (Nguyên Thành Tông) coi thiên hạ là phép độ, sai cơ quan có thẩm quyền phóng thích cho về. Từ nay tuyển trạch sứ thần phải kỹ lưỡng" [1].
Có thể thấy Nguyên Thành Tông cũng không muốn sự việc leo thang, dẫn tới xung đột, nên coi như đó là hành vi của riêng cá nhân Đặng Nhữ Lâm. Họ nhắm mắt cho qua việc chắc chắn ông làm tất cả chỉ theo ý chỉ của triều đình Đại Việt chứ không thể tự phát. Đặng Nhữ Lâm cũng không bị tổn hại, mà được triều Nguyên tha về.
May mắn là ông đã phần nào hoàn thành nhiệm vụ, và mang về nước một món quà tri thức rất quý báu.
Lịch pháp: Di sản lâu bền
Trong quan niệm Á Đông xưa, lịch pháp là biểu tượng của thiên mệnh và quyền lực chính thống; chỉ thiên tử mới có quyền ban bố lịch để xác lập trật tự thời gian và hướng dẫn dân chúng canh tác. Vì vậy, các triều đại Trung Hoa thường ban lịch cho các nước xung quanh như Cao Ly, Đại Việt... mà lại giấu nhẹm phương pháp tính lịch.
Nông lịch không đơn thuần là âm lịch/ lịch mặt trăng, mà thực chất là lịch âm dương với cách tính toán rất phức tạp. Mỗi cuối năm, sau khi Khâm Thiên giám - cơ quan chuyên phụ trách thiên văn, lịch pháp và chiêm tinh của triều đình - tính xong lịch cho năm kế tiếp, sẽ có lễ Tiến lịch lên nhà vua và lễ Ban lịch cho các địa phương [2].
Việc Trung Quốc cấm tiết lộ tri thức sang nước ta đã có từ thời Tống. Tống sử ghi: "những năm đầu niên hiệu Đại Quán (niên hiệu của Tống Huy Tông, từ 1107 - 1111), cống sứ An Nam đến kinh xin mua thư tịch, cơ quan có thẩm quyền đáp rằng phép tắc nhà nước không cho, tuy nhiên xuống chiếu khen ngợi sự mộ nghĩa, trừ sách cấm như bói toán, âm dương, tính lịch, thuật số, binh thư, sắc lệnh, thời vụ, chuyện biên cương, địa lý, thì các sách khác đều cho mua" [3].
Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, năm 1324, vua Nguyên sai Mã Hợp Mưu, Dương Tông Thụy sang nước ta báo tin lên ngôi và trao cho một quyển lịch Thụ Thời (授時曆) [4]. Lịch Thụ Thời được Quách Thủ Kính nhà Nguyên tính toán từ năm 1281, và được triều Nguyên, Minh sử dụng cho đến tận khi nhà Minh sụp đổ năm 1644 mà không có điều chỉnh [5]. Để có sự chính xác như vậy, rất có khả năng Quách Thủ Kính đã tiếp thu ảnh hưởng từ khí cụ thiên văn châu Âu - Arab [6].
Thế nhưng năm 1339, nhà Trần không còn lệ thuộc vào lịch Thụ Thời của nhà Nguyên. Hậu nghi lang thái sử cục lệnh (người đứng đầu việc quan sát, thiên văn của thái sử cục) là Đặng Lộ cho rằng lịch trước đều gọi là lịch Thụ Thời (hàm ý xác định và ban bố lịch pháp), xin đổi thành lịch Hiệp Kỷ (chuẩn định lịch pháp theo các quy luật) [4]. Sự kiện này đánh dấu việc Đặng Lộ đã tự tính được lịch mà không cần người Nguyên ban.
Vào năm 1300, lịch Trần và lịch Nguyên còn khác nhau: ta nhuận tháng Ba, Trung Quốc nhuận tháng Tám. Đến năm Bính Ngọ - 1306, lịch ta và lịch Trung Quốc đều nhuận tháng Giêng, hai lịch giống nhau [5].
Đặng Lộ và Đặng Nhữ Lâm có quan hệ thế nào? Theo PGS Lê Thành Lân (tác giả sách Lịch hai mươi mốt thế kỷ), Đặng Lộ chính là con trai Đặng Nhữ Lâm [5]. Như vậy, không nghi ngờ gì, mặc dù nhiệm vụ tình báo của Đặng Nhữ Lâm bị bại lộ, nhưng ít nhất ông đã lấy được phép làm lịch mới bí mật mà nhà Nguyên cố gắng giấu kín, rồi khi về nước, ông truyền lại cho con trai.
Không chỉ dừng ở đó, ông còn tiếp thu được công nghệ chế tạo dụng cụ quan trắc thiên tượng (các hiện tượng tự nhiên trên bầu trời). Năm 1288 - 1289, Quách Thủ Kính ở Khâm Thiên giám của nhà Nguyên sáng tạo ra Linh Lung Nghi, có chức năng kép, vừa dùng để trình diễn vị trí các thiên thể trên bầu trời, vừa dùng để quan trắc thiên tượng như nhật thực, nguyệt thực... [6]. Trước năm 1339, Đặng Lộ cũng chế tạo thành công thứ khí cụ này, đem nó "khảo nghiệm thiên tượng, không việc gì là không hợp" [4].
Phỏng đoán hình dạng Linh Lung Nghi của Đặng Lộ dựa trên mô hình của Leonardo Nguyễn. Tranh: Kaovjets Nguyens, trong sách Kì công diệu nghệ (2025, NXB Kim Đồng)
Đáng kinh ngạc là cả phép làm lịch Thụ Thời lẫn Linh Lung Nghi đều là những thành tựu khoa học phức tạp bậc nhất của đế quốc Nguyên, được xây dựng trên nền tảng toán học, thiên văn học và cơ khí tinh vi, lại thuộc loại tri thức mà triều Nguyên phải tìm mọi cách giữ kín để duy trì vị thế "tông chủ" của thiên hạ.
Việc soạn lịch ở Đông Á thời cổ không hề đơn giản. Đó không đơn thuần là âm lịch (lịch mặt trăng) như ta vẫn gọi ngày nay, mà là âm-dương lịch, dùng cho nhà nông. Đây là hệ lịch vừa phải tính toán theo chu kỳ Mặt Trăng, vừa bám sát vận động của Mặt Trời để bảo đảm mùa vụ. Người làm lịch phải tính toán tháng nhuận để giữ tháng và bốn mùa không lệch nhau, đồng thời xác định 24 tiết khí dựa trên vị trí của Mặt Trời. Chỉ một sai lệch vài ngày cũng có thể ảnh hưởng đến thời vụ, khiến việc làm lịch trở thành một công việc đòi hỏi trình độ thiên văn và toán học rất cao.
Vậy mà chỉ trong một chuyến đi sứ, Đặng Nhữ Lâm, bằng cách làm gián điệp theo cách diễn đạt của Nguyên sử hay bằng cách nào đó, đã có thể lĩnh hội những phương pháp tính lịch phức tạp rồi truyền lại cho con trai, để Đặng Lộ không chỉ làm chủ phép lịch mới mà còn chế tạo thành công khí cụ quan trắc thiên tượng.
Thành tựu ấy là minh chứng cho trí tuệ xuất chúng của hai cha con Đặng Nhữ Lâm - Đặng Lộ, những người đã đưa khoa học thiên văn Đại Việt vươn tới trình độ tiệm cận triều Nguyên - nền văn minh lớn nhất ở Đông Á đương thời.
Di sản của Đặng Nhữ Lâm để lại đã nở rộ qua ít nhất ba thế hệ, và vượt ra ngoài phạm vi gia tộc của ông. Một nhân vật thời Trần khác được biết đến với học vấn uyên thâm về thiên văn, lịch pháp là Trần Nguyên Đán (1325-1390) - ông ngoại của Nguyễn Trãi. Ông biên soạn Bách thế thông kỷ thư, một công trình tổng hợp về lịch pháp và thiên tượng qua các triều đại. Mặc dù tác phẩm hiện đã thất lạc, nhưng việc sử sách còn ghi nhận tên sách cũng đủ cho thấy Trần Nguyên Đán đã tiếp nối truyền thống từ Đặng Nhữ Lâm, Đặng Lộ để dành nhiều tâm sức nghiên cứu quy luật vận hành của bầu trời và sự biến đổi của thời gian.
Có thể nói, các bộ chính sử (trước và sau Nguyên sử) không ghi nhận trường hợp gián điệp công nghệ nào khác từ Đại Việt với mức độ nghiêm trọng tương tự. Vì vậy, chúng tôi cho rằng Đặng Nhữ Lâm là một trường hợp hãn hữu, đi vào sử sách.
---
Tài liệu tham khảo:
[1] Tống Liêm, Nguyên sử - Quyển 209: Ngoại di nhị - An Nam, https://ctext.org/wiki.pl?if=en&chapter=6544803#p13, truy cập ngày 6/8/2026; ; [元史/列傳 917卷/卷209 列傳第96/外夷二/安南/段9619, 底本:洪武九十九卷本和南監本, p.4650]
[2] Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú có ghi chép rất kỹ lưỡng về lễ Tiến Lịch thời Lê Trung Hưng.
[3] Thác Khắc Thác, Tống sử - Liệt truyện 247- Ngoại quốc tứ: Giao Chỉ, https://ctext.org/wiki.pl?if=en&chapter=728441#p4, truy cập ngày 6/8/2026
[4] Đại Việt sử ký toàn thư - Bản kỷ toàn thư: Trần Minh Tông, https://www.nomfoundation.org/nom-project/history-of-greater-vietnam/Fulltext/42-Minh-Tong-Hoang-De?uiLang=vn, truy cập ngày 6/8/2026
[5] Lê Thành Lân và Trần Ngọc Dũng. Hai cha con họ Đặng và lịch học Việt Nam xưa. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 5 (88), tháng 10/2011.
[6] Trương Nam 张楠, Linh lung nghi tân khảo 玲珑仪新考, 自然科学史研究 第38卷 第1期 2019年: 53 - 66.