Tuy nhiên, các doanh nghiệp này đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, từ việc thiếu vốn, cơ hội thị trường đến thông tin quản lý -những vấn đề cần đến sự giúp sức hiệu quả của các tổ chức hỗ trợ trung gian - điều mà Việt Nam vẫn còn thiếu.
![]() |
Doanh nghiệp xã hội Tò he tạo ra sân chơi sáng tạo dành cho trẻ em đặc biệt. Tranh vẽ của các em được chọn lọc, thiết kế lại và ứng dụng trang trí lên các sản phẩm thời trang, phong cách sống. |
Các tổ chức hỗ trợ cũng... cần hỗ trợ
Với mong muốn bảo tồn và phát huy tinh hoa thủ công mỹ nghệ lâu đời của các làng nghề truyền thống Huế, đồng thời tạo việc làm ổn định cho các nghệ nhân, đặc biệt là phụ nữ nông thôn, chị Hồ Thị Sương Lan đã sáng lập Công Ty TNHH Maries - một doanh nghiệp thổi hồn vào những sợi cỏ bàng, biến chúng thành các sản phẩm mang đậm giá trị thẩm mỹ như nón lá, túi xách, mũ,... Công ty của chị Sương Lan là một doanh nghiệp tạo tác động xã hội (SIB - Social Impact Business) tại Việt Nam với mô hình kinh doanh theo hai nguyên lý trung tâm: hoạt động thương mại và cam kết tạo tác động tích cực cho xã hội/môi trường.
Nhưng không dễ để thành công với hai nguyên lý ấy. Theo khảo sát năm 2022 mà Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) thực hiện với các SIB tại Việt Nam, các doanh nghiệp như vậy thường gặp rất nhiều khó khăn, trong đó thách thức thường gặp nhất là thiếu vốn (76,1% gặp khó khăn này), khó khăn về thị trường (tiêu thụ) sản phẩm (47.9%), thiếu thông tin (47.9%) và thiếu kiến thức về kỹ năng quản lý kinh doanh (trên 40%). Trong khảo sát này, có 25% đến 33% SIB đề cập họ gặp các vấn đề khác liên quan đến tính phức tạp của chính sách/thủ tục triển khai chính sách hỗ trợ SIB, hạn chế về mạng lưới kinh doanh, hạn chế trong hiểu biết của xã hội/công chúng về kinh doanh tạo tác động, thiếu lực lượng lao động và nguồn nhân lực quản lý đủ năng lực, và cuối cùng, nhưng không kém quan trọng là sự thiếu vắng các chính sách thuế ưu đãi cho các SIB.
Việc phát triển một hệ sinh thái có thể nuôi dưỡng/nâng đỡ các SIB trở nên vô cùng cần thiết, trong đó một thành tố quan trọng của hệ sinh thái SIB là các Tổ chức hỗ trợ cho các SIB. Các tổ chức hỗ trợ này có thể giúp đỡ SIB từ khi chuẩn bị thành lập đến khi hoạt động ổn định, tăng trưởng và phát triển, có thể cung cấp nhiều hỗ trợ đa dạng và trực tiếp như: tư vấn thành lập doanh nghiệp, kết nối nhà đầu tư (tiếp cận nguồn tài chính), cung cấp thông tin (thị trường, chính sách), đào tạo/bồi dưỡng nguồn nhân lực và cố vấn/tư vấn phát triển kinh doanh. Bên cạnh đó, các tổ chức hỗ trợ còn có thể gián tiếp hỗ trợ cho SIB thông qua tương tác với chủ thể là cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách liên quan đến SIB và nâng cao nhận thức của cộng đồng về SIB. Tại Việt Nam, hình thức tồn tại của các tổ chức hỗ trợ khá đa dạng, như trường đại học/viện nghiên cứu, tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGO), cơ quan truyền thông, vườn ươm doanh nghiệp, trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp do UBND cấp tỉnh hoặc các Bộ chuyên ngành thành lập, và Đơn vị tư vấn, phát triển kinh doanh, các Trung gian tài chính,...
Song, chính các tổ chức như vậy cũng vẫn đang phải loay hoay, và cả số lượng cũng như chất lượng vẫn chưa đáp ứng các yêu cầu của SIB, theo Báo cáo mới "Nghiên cứu Thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hỗ trợ kinh doanh tạo tác động xã hội tại Việt Nam" do Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP) thực hiện với sự hỗ trợ của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP). Kết quả nghiên cứu của CSIP cho thấy, hiện nay, Việt Nam có khoảng 84 tổ chức đang hỗ trợ hoặc có tiềm năng hỗ trợ các SIB như Start-up Vietnam Foundation, Angel4Us, Dear Our Community, CSIP, SIB Hub, CCS, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia – NIC, BK Holdings,...
Các tổ chức này tập trung chủ yếu vào hoạt động ươm tạo/tăng tốc SIB (62/84 tổ chức) và phát triển quan hệ đối tác, nâng cao nhận thức (43/84 tổ chức), nhưng lại thiếu hoạt động giải quyết tình trạng thiếu vốn và nhân lực của SIB. Bên cạnh đó, dịch vụ hỗ trợ được cung cấp có xu hướng chồng chéo, kém hiệu quả và chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu của SIB. "Họ thiếu năng lực quản lý, đo lường tác động cũng như khả năng xác định các rào cản và động lực đặc thù của từng nhóm tổ chức, khiến việc đưa ra cách tiếp cận và giải pháp hiệu quả trở nên khó khăn. Hệ quả là các tổ chức hỗ trợ thường chỉ cung cấp những dịch vụ thông thường, dễ thực hiện như tập huấn hay hội thảo, nhiều nội dung còn trùng lặp, dẫn đến việc các SIB không sẵn sàng chi trả, thậm chí đôi khi còn tốn thời gian của người quản lý", nghiên cứu chỉ ra. Chưa kể đến, tổ chức hỗ trợ chủ yếu tập trung ở các trung tâm thành thị, gây khó khăn trong việc tiếp cận các SIB ở khu vực nông thôn.
Đáng bàn hơn, các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp xã hội cũng đang đối mặt với nhiều thách thức trong hoạt động của chính mình. Khoảng 52% người tham gia cho biết khó khăn lớn nhất là xác định và kết nối với các SIB, đồng thời tỷ lệ tương tự cũng gặp trở ngại khi hợp tác với các tổ chức hỗ trợ khác. Bên cạnh đó, khoảng 40% tổ chức lo ngại về khả năng bền vững tài chính. "Nguyên nhân xuất phát từ hai thực tế: một là các SIB, dù trở thành khách hàng dài hạn, thường không đánh giá cao hoặc chưa hài lòng với dịch vụ, dẫn đến hạn chế chi trả; hai là chính các SIB cũng đang gặp khó khăn về vốn đầu tư hoặc chi phí hoạt động, nên khả năng thanh toán cho dịch vụ hỗ trợ, kể cả khi hài lòng với chất lượng, vẫn còn hạn chế", báo cáo của CSIP chỉ ra.
Nâng cao năng lực và thu hẹp khoảng cách
Một vấn đề khác là khả năng hợp tác giữa các tổ chức hỗ trợ và mở rộng mạng lưới ra ngoài hệ sinh thái cũng còn hạn chế. Theo CSIP, nguyên nhân bắt nguồn từ việc thiếu cơ chế chia sẻ thông tin và phối hợp hiệu quả, nhiều tổ chức cung cấp dịch vụ tương tự nhau dẫn đến cạnh tranh thay vì hợp tác; ngược lại, hạn chế về tài chính, nhân lực, cũng như sự khác biệt về mục tiêu và lợi ích giữa các tổ chức lại gây khó khăn trong việc tìm kiếm điểm chung. "Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng huy động nguồn lực xã hội, đồng thời hạn chế vai trò của tổ chức hỗ trợ như cầu nối giữa doanh nghiệp với khu vực công và tư nhân trong xúc tiến thương mại và tiếp cận vốn", nhóm nghiên cứu cho biết. Nhìn chung, cả SIB và tổ chức hỗ trợ đều đánh giá việc duy trì hoạt động bền vững là một thách thức, do những hạn chế về nguồn nhân lực, chiến lược phát triển, mô hình kinh doanh, khả năng tiếp cận của SIB và nguồn tài chính.
Để hệ sinh thái kinh doanh tạo tác động xã hội của Việt Nam phát triển bền vững về lâu dài, theo báo cáo của CSIP, cần thu hẹp khoảng cách giữa năng lực và số lượng tổ chức hỗ trợ sao cho tương xứng với tầm nhìn của hệ sinh thái. Nhóm nghiên cứu đề xuất cần gia tăng số lượng tổ chức hỗ trợ bằng cách khuyến khích sự tham gia rộng rãi hơn của cả các tổ chức hỗ trợ kinh doanh nói chung và các tổ chức xã hội trong hệ sinh thái SIB. Và để đánh giá đúng hiệu quả hoạt động của các tổ chức hỗ trợ, cần xây dựng một khung năng lực với tiêu chí và hướng dẫn cụ thể để trên cơ sở đó có thể huy động nguồn lực từ Nhà nước và khu vực tư nhân phát triển năng lực cho các tổ chức hỗ trợ theo những tiêu chuẩn rõ ràng và thống nhất.
Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế, nhiều doanh nghiệp xã hội cũng cho biết họ đang cần những nhà đầu tư chấp nhận trì hoãn lợi nhuận trong thời gian dài, để có đủ điều kiện thử nghiệm và phát triển mô hình kinh doanh. Đây là nhu cầu đặc thù của doanh nghiệp xã hội - những đơn vị vừa phải tạo ra lợi nhuận tài chính, vừa giải quyết các vấn đề xã hội, nên quá trình hoàn thiện mô hình thường kéo dài hơn so với doanh nghiệp thông thường. Trong bối cảnh đó, các tổ chức hỗ trợ giữ vai trò then chốt trong việc tìm kiếm và kết nối doanh nghiệp với các nguồn vốn dài hạn phù hợp, dung hòa lợi ích giữa các nhà đổi mới xã hội và nhiều nhóm nhà đầu tư khác nhau, từ tổ chức chính phủ, phi chính phủ đến doanh nghiệp lớn hay các quỹ đầu tư mạo hiểm.
Để làm được điều này, nhóm nghiên cứu của CSIP đề xuất xây dựng một cổng thông tin chung dành cho SIB và tổ chức hỗ trợ, nhằm chia sẻ dữ liệu, mở rộng cơ hội kết nối và tiếp nhận phản hồi, qua đó nâng cao hiệu quả toàn hệ sinh thái. Cổng thông tin này cũng có thể trở thành kênh liên lạc trực tiếp giữa cơ quan nhà nước, tổ chức hỗ trợ và các chủ thể khác. Một mô hình về hệ sinh thái kinh doanh tạo tác động xã hội mà Việt Nam có thể tham khảo để xây dựng cơ chế hợp tác, chia sẻ thông tin là Danh mục Doanh nghiệp Xã hội Scotland. Đây là một công cụ trực tuyến cung cấp thông tin về các dịch vụ hỗ trợ cho doanh nghiệp xã hội ở Scotland - một sáng kiến của Chính phủ nước này và được quản lý bởi Quỹ Đầu tư Xã hội Scotland. Công cụ này được thiết kế để giúp các doanh nghiệp tìm được sự hỗ trợ phù hợp, tiếp cận tới hơn 500 dịch vụ hỗ trợ trên khắp cả nước, bao gồm đào tạo, tài trợ và cơ hội kết nối mạng lưới. Người dùng có thể tìm kiếm các dịch vụ hỗ trợ theo vị trí, loại hỗ trợ và ngành. Ngoài ra còn có các nghiên cứu điển hình và câu chuyện thành công từ các doanh nghiệp xã hội đã nhận được hỗ trợ thông qua chương trình.
Bên cạnh đó, theo CSIP, cơ quan quản lý cũng cần tăng sự hiện diện của tổ chức hỗ trợ tạo tác động xã hội trong những chương trình khởi nghiệp hiện hành, chẳng hạn Đề án 844 hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Các tổ chức hỗ trợ cũng có thể tham gia sâu hơn vào các chương trình của chính phủ như xây dựng nông thôn mới hay Chương trình OCOP, tùy theo định hướng ưu tiên. "Thông qua kinh nghiệm của các nước, các tổ chức như CSIP cần được hỗ trợ thúc đẩy ba trụ cột của một doanh nghiệp là nhân lực, tài chính và thị trường. Đây là ba thách thức lớn nhất của doanh nghiệp xã hội và tùy vào từng bối cảnh khác nhau mà đặt cái gì lên trước và đưa ra mô hình cụ thể", bà Phạm Kiều Oanh - người sáng lập và Giám đốc điều hành của Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP) - từng chia sẻ với Báo KH&PT vào năm 2018. "Để đảm bảo các tổ chức hỗ trợ thực sự trở thành ‘bệ đỡ’ hiệu quả cho các doanh nghiệp tạo tác động xã hội, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhà nước, khu vực tư nhân, tổ chức phi lợi nhuận, cộng đồng quốc tế và bản thân các tổ chức hỗ trợ", báo cáo nhấn mạnh.
Bài đăng KH&PT số 1371 (số 47/2025)
Mỹ Hạnh
