Một trong những chủ đề được thảo luận và chú ý nhiều nhất trong Luật sửa đổi, bổ sung Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa vừa qua là việc Luật đã thay đổi căn bản phương thức quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa: chuyển từ phân nhóm hàng hóa một cách hành chính (nhóm 1, nhóm 2) sang phân loại theo ba mức độ rủi ro (thấp, trung bình, cao) để quản lý theo hướng giảm tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Sự thay đổi này khiến rất nhiều doanh nghiệp vui mừng vì trước đây, "danh mục hàng hóa nhóm 2" đã gây ra không ít vướng mắc trong quá trình thực hiện. Đây là danh mục các sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn, được quản lý theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, nhằm bảo vệ sức khỏe, sự an toàn cho người tiêu dùng, động vật, thực vật, tài sản, môi trường. Vấn đề nằm ở chỗ, việc quản lý nhóm 2 này trước đây chưa dựa trên cơ sở khoa học rủi ro, "tiêu chí phân loại còn chung chung, cảm tính, không áp dụng đánh giá định lượng, thiếu thống nhất giữa các bộ ngành về xác định sản phẩm thuộc nhóm 2. Điều này dẫn đến sự không đồng bộ và chồng chéo trong quản lý", theo dự thảo tờ trình Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa và Luật sửa đổi của Bộ KH&CN.
Nhìn ra thế giới, cũng không có quốc gia nào đưa ra định nghĩa cụ thể về sản phẩm nhóm 2. Ông Nguyễn Hồng Uy - Trưởng nhóm Kỹ thuật Tiểu ban Thực phẩm và Dinh dưỡng, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) tại một hội thảo hồi tháng ba cho biết, chỉ có Mỹ và EU có quy định tương tự, nhưng họ chỉ giới hạn trong 9 loại, bao gồm chất nổ, khí nén, chất lỏng dễ cháy, chất rắn dễ cháy, các chất phóng xạ... Trong khi đó, tại Việt Nam, các mặt hàng như gạo, ngô, khoai, sắn... lại cũng được được vào danh mục này do lo ngại việc bảo quản không hợp lý có thể gây chất độc - trong khi đó đây là vấn đề nằm ở việc bảo quản sai chứ không nằm ở bản chất tiềm ẩn nguy hại của sản phẩm khi sử dụng đúng mục đích và được bảo quản hợp lý - từ đó dẫn đến những rắc rối không cần thiết cho cả doanh nghiệp cũng như không mang lại hiệu quả đảm bảo chất lượng sản phẩm cho người tiêu dùng.
Đó là lý do Luật sửa đổi đã chuyển sang phân loại hàng hóa theo ba mức độ rủi ro (thấp, trung bình, cao), dựa trên mức độ tác động đến sức khỏe, môi trường, khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng và cảnh báo từ tổ chức quốc tế, đồng thời cũng tính đến khả năng quản lý của cơ quan nhà nước trong từng thời kỳ. Bên cạnh đó, phương thức hậu kiểm sẽ được ưu tiên, hạn chế tiền kiểm, nhằm giảm can thiệp hành chính. "Đây là bước chuyển căn bản từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu và đánh giá khoa học, thể hiện tư tưởng cốt lõi lấy khoa học công nghệ làm công cụ quản trị quốc gia", dự thảo tờ trình nghị định của Bộ KH&CN cho biết.
![]() |
Ảnh: EMS. |
Với bước chuyển này, Luật quy định rõ cách thức quản lý hàng hóa tương ứng với từng mức rủi ro: Với mức rủi ro thấp, doanh nghiệp tự công bố tiêu chuẩn áp dụng. Khi hàng hóa ở mức rủi ro trung bình, doanh nghiệp công bố tiêu chuẩn và tự đánh giá hoặc được đánh giá hợp quy bởi tổ chức chứng nhận được công nhận. Trong trường hợp sản phẩm ở mức rủi ro cao, doanh nghiệp mới cần phải đáp ứng cả việc công bố tiêu chuẩn và có chứng nhận hợp quy bởi tổ chức chứng nhận được chỉ định. "Cách tiếp cận này giúp giảm chi phí tuân thủ và tập trung nguồn lực vào các sản phẩm có nguy cơ cao", theo Bộ KH&CN. Bộ cũng sẽ ban hành danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao phải có yêu cầu quản lý, kèm theo mã HS phù hợp với Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.
Dựa trên dữ liệu và cơ sở khoa học
Vậy làm thế nào để xác định chính xác được mức độ rủi ro của hàng hóa - điều vốn bị quyết định một cách khá cảm tính trong cách phân loại hàng hóa theo nhóm 1, nhóm 2 trước đây? Dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá, Luật sửa đổi, và quy định về nhãn hàng hoá, được lấy ý kiến góp ý gần đây, đã đưa ra một số quy định rõ ràng hơn. Theo đó, việc đánh giá rủi ro của sản phẩm, hàng hóa được thực hiện trên cơ sở áp dụng các kỹ thuật đánh giá rủi ro quy định trong tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 31010 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 31010 và căn cứ vào một hoặc các tiêu chí như: tác động đến sức khỏe con người (khả năng gây độc, kích ứng, dị ứng hoặc ảnh hưởng đến gene, nội tiết, thần kinh, sinh sản; ảnh hưởng đến nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người có bệnh nền); tác động đến môi trường (khả năng gây ô nhiễm không khí, nước, đất trong suốt vòng đời sản phẩm; nguy cơ tích lũy sinh học, phát tán chất nguy hại hoặc ảnh hưởng đến hệ sinh thái, đa dạng sinh học).
Bên cạnh đó, các tiêu chí còn bao gồm: khả năng kiểm soát trong chuỗi cung ứng (chuỗi cung ứng phức tạp, xuyên biên giới hoặc thiếu minh bạch; khó khăn trong việc truy xuất nguồn gốc và giám sát chất lượng; tính dễ bị làm giả, thay thế, biến đổi trong quá trình vận chuyển, bảo quản, phân phối). Ngoài ra, các thông tin cảnh báo từ cơ quan có thẩm quyền và tổ chức quốc tế (cảnh báo, khuyến cáo của các tổ chức như WHO, FAO, OECD, ISO, IEC, UNECE, RAPEX,...; hay dữ liệu về sự cố, thu hồi, vi phạm chất lượng tại Việt Nam hoặc quốc tế; kết quả thanh tra, kiểm tra trong và ngoài nước) cũng là một số tiêu chí có thể khiến sản phẩm, hàng hóa bị xếp vào nhóm rủi ro cao. "Việc áp dụng các tiêu chí này phải có căn cứ định lượng hoặc định tính rõ ràng, phù hợp từng loại sản phẩm, hàng hóa và được thể hiện trong hồ sơ đánh giá rủi ro", dự thảo của Bộ KH&CN nhấn mạnh.
Dự thảo cũng đưa ra quy định cụ thể về hồ sơ ban hành danh mục sản phẩm, hàng hóa có rủi ro bao gồm: Thuyết minh lý do đưa sản phẩm, hàng hóa vào danh mục quản lý, nêu rõ căn cứ khoa học, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế; Báo cáo đánh giá rủi ro theo tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế (bao gồm các nội dung: mô tả sản phẩm và phạm vi sử dụng; phân tích nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, môi trường; đánh giá khả năng kiểm soát rủi ro trong chuỗi cung ứng; thông tin cảnh báo quốc tế; phân loại mức độ rủi ro và kiến nghị biện pháp quản lý).
Những tiêu chí này được kỳ vọng sẽ giúp việc phân loại và quản lý hàng hóa có căn cứ rõ ràng, minh bạch hơn. Tuy nhiên, khi đối chiếu các tiêu chí trong dự thảo với tiêu chuẩn TCVN và ISO/IEC 31010, nhiều doanh nghiệp cho rằng chúng vẫn còn thiếu rõ ràng và chưa thật sự phù hợp. Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), dự thảo chưa làm rõ việc đánh giá rủi ro theo TCVN và ISO/IEC 31010 dựa trên hệ quả và xác suất xảy ra. "Các tiêu chí được nêu trong dự thảo không có trong ISO/IEC 31010. Thực chất, đây là các yếu tố về hệ quả chứ không phải tiêu chí đánh giá rủi ro. Cách diễn đạt hiện nay còn chung chung, không chỉ rõ ảnh hưởng của sản phẩm là tích cực hay tiêu cực, trong điều kiện sử dụng đúng hay sử dụng sai, và cũng không hề tính đến xác suất xảy ra", VCCI nhận định.
Ví dụ, với tiêu chí "ảnh hưởng đến nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người có bệnh nền, phụ nữ mang thai" - VCCI đặt câu hỏi: "Liệu các sản phẩm có lợi cho sức khỏe trẻ em cũng bị xem là nguy cơ cao, hay chỉ những sản phẩm gây hại cho sức khỏe trẻ em mới được coi là nguy cơ cao?" Ngoài ra, VCCI cho rằng các yếu tố như "khả năng kiểm soát trong chuỗi cung ứng" hay "thông tin cảnh báo từ cơ quan có thẩm quyền và tổ chức quốc tế" phù hợp để đánh giá xác suất xảy ra rủi ro, chứ không nên được xem là tiêu chí phân loại rủi ro của sản phẩm.
Do đó, theo VCCI, giải pháp phù hợp là sửa đổi theo hướng Báo cáo đánh giá rủi ro (trong đó, mức độ rủi ro = hệ quả x xác suất xảy ra) theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 31010 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 31010. Trong đó, báo cáo sẽ phân tích và đánh giá hệ quả về ảnh hưởng có hại có thể xảy ra trong điều kiện sử dụng bình thường của sản phẩm; phân tích và đánh giá khả năng kiểm soát rủi ro trong chuỗi cung ứng; và xác suất xảy ra các hệ quả đó (dựa theo dữ liệu về sự cố, thu hồi, vi phạm chất lượng tại Việt Nam hoặc quốc tế; kết quả thanh tra, kiểm tra trong và ngoài nước; thông tin cảnh báo từ cơ quan có thẩm quyền và tổ chức quốc tế; hoặc phân tích từ các tài liệu khoa học).
Đồng thời, theo VCCI, khi phân loại hàng hóa theo ba mức độ như vậy, dự thảo nên quy định rõ nguyên tắc và bổ sung vào cụm từ "theo nguyên tắc kim tự tháp: hàng hóa rủi ro thấp chiếm phần lớn, rủi ro trung bình ít hơn, và rủi ro cao ít nhất" để các bộ ngành thực hiện thống nhất, tránh quy định chung chung dễ dẫn đến lạm dụng phân loại nhiều sản phẩm vào nhóm rủi ro cao.
Và để việc áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra sản phẩm, hàng hoá cụ thể hơn, VCCI đề xuất bổ sung quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra nhà nước hàng hóa sản xuất, nhập khẩu cũng như kiểm tra hàng hóa lưu thông trên thị trường (hậu kiểm) với ba cấp độ kiểm tra (chặt, thường và giảm) theo ba mức độ rủi ro (cao, trung bình, thấp) để quản lý chất lượng hiệu quả hơn và cắt giảm được thủ tục hành chính, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Bài đăng KH&PT số 1367 (số 43/2025)
Mỹ Hạnh
