![]() |
Từ góc độ của cấp phép mở, dữ liệu mở là tập con của tài nguyên giáo dục mở. |
Những bước khởi đầu
Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định 1117/QĐ-TTg năm 2023 về Chương trình xây dựng mô hình tài nguyên giáo dục mở trong các cơ sở giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện đang soạn thảo Nghị định quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này - văn bản pháp lý đầu tiên ở cấp độ quốc gia để quản lý việc khai thác và sử dụng tài nguyên giáo dục mở.
Tương tự như khái niệm về tài nguyên giáo dục mở của UNESCO năm 2019, dự thảo nghị định của Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa: tài nguyên giáo dục mở là các tài liệu học tập, giảng dạy và nghiên cứu dưới mọi định dạng và phương tiện, thuộc phạm vi công cộng hoặc đang được bảo hộ bản quyền nhưng đã được phát hành theo giấy phép mở, cho phép người khác truy cập miễn phí, tái sử dụng, tái mục đích, chỉnh sửa và phân phối lại. Trong đó, giấy phép mở "là loại giấy phép tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của tác giả và cho phép công chúng được quyền truy cập, tái sử dụng, tái mục đích, chỉnh sửa và phân phối lại các tài liệu giáo dục", theo dự thảo đang được xây dựng.
Dù chưa thực sự phổ biến ở Việt Nam, song, tài nguyên giáo dục mở rất phát triển ở nhiều quốc gia khác. Các tài nguyên giáo dục mở thường được cho phép bản quyền thông qua các giấy phép Creative Commons. Các giấy phép đó cho phép giữ lại không có giới hạn và cũng thường cho phép sửa đổi các tư liệu khóa học, trừ giấy phép Creative Commons No-Derivatives (Creative Commons Không có Phái sinh). Vì thế, với tài nguyên giáo dục mở, những người hướng dẫn có sự mềm dẻo để sửa đổi nội dung hoặc kết hợp nhiều nguồn để tạo ra các tư liệu khóa học mới phù hợp với kế hoạch khóa học mong muốn và các kết quả đầu ra học tập của họ thay vì việc tùy chỉnh giáo trình cho phù hợp với các tài nguyên thương mại. Tài nguyên giáo dục mở có thể được tùy chỉnh cho phù hợp với cơ sở và lượng sinh viên của nó, cho phép các sinh viên liên hệ tốt hơn với nội dung.
Không chỉ vậy, tài nguyên giáo dục mở sẽ đảm bảo mọi sinh viên có truy cập tức thì và không giới hạn tới nội dung khóa học; có thể lựa chọn đối tác công nghệ thay vì bị khóa trói vào một nền tảng hoặc hệ thống nhất định; có khả năng để sử dụng, sửa đổi, và tùy biến thích nghi các tư liệu đang có mà không cần có sự cho phép bản quyền (vì đã được các tác giả cho phép trước),...
David Wiley - Giám đốc Học thuật của Lumen Learning và là nghiên cứu viên giáo dục tại Creative Commons - mô tả khả năng độc nhất vô nhị để giữ lại, sử dụng lại, làm lại, pha trộn, và phân phối lại tài nguyên giáo dục mở không có giới hạn như là nguyên tắc "5R". Nguyên tắc 5R, được kết hợp với khả năng truy cập tự do không mất tiền tới các tư liệu, ngụ ý tài nguyên giáo dục mở có thể có tác động đáng kể đối với các kinh nghiệm học tập của sinh viên. Ví dụ, ngày càng có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các sinh viên học tốt bằng hoặc tốt hơn trong các khóa học sử dụng tài nguyên giáo dục mở so với các tư liệu khóa học thương mại truyền thống. Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra sự gia tăng đáng kể mật độ tuyển sinh giữa các sinh viên được tuyển sinh vào các khóa học tài nguyên giáo dục mở.
Theo chia sẻ của chuyên gia Lê Trung Nghĩa - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu đào tạo và Phát triển tài nguyên giáo dục mở (Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam) với báo KH&PT, tài nguyên giáo dục mở nói riêng và "mở" nói chung ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn dò hướng chứ chưa đi đúng hướng. Để đúng hướng, cần có sự thay đổi văn hóa, từ văn hóa "nhường cơm sẻ áo" (chia sẻ các tài nguyên hữu hình, các tài nguyên chạm vào được) sang văn hóa "chia sẻ ý tưởng để phát triển cùng và không tách rời khỏi các cộng đồng nguồn mở thế giới" (các tài nguyên vô hình, không chạm được, và chúng là kết quả của quá trình chuyển đổi số, bao gồm cả AI).
Đây cũng là điều mà các nhà quản lý đang cố gắng thay đổi. TS. Đặng Văn Huấn - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT) cho biết tại hội thảo góp ý dự thảo nghị định mới được tổ chức vào cuối tháng tám, bên cạnh việc xây dựng nghị định, nội dung trọng tâm thứ hai là việc xây dựng Cổng quốc gia về tài nguyên giáo dục mở. Đây sẽ là hệ thống kết nối với các cổng tài nguyên của các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế, tạo điều kiện để giảng viên, sinh viên, nhà nghiên cứu và các trường đại học dễ dàng tiếp cận, chia sẻ và khai thác. Trong thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ triển khai cơ chế đăng ký, cho phép các trường tham gia và đưa tài nguyên mở của mình lên hệ thống chung. Nghị định mới cũng sẽ đóng vai trò là cơ sở pháp lý để quản lý, khai thác và đảm bảo bản quyền đối với các tài nguyên được chia sẻ trên cổng quốc gia.
Nhiệm vụ thứ ba là hỗ trợ và khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học, tổ chức, giảng viên và cá nhân tham gia xây dựng, công bố và đưa tài nguyên mở lên hệ thống quốc gia từ nay đến năm 2030. Bên cạnh đó, Bộ cũng sẽ tổ chức các diễn đàn, hội nghị, khóa tập huấn nhằm truyền thông, nâng cao nhận thức về vai trò và sự cần thiết của tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học trong giai đoạn sắp tới.
Cần lối đi phù hợp
Theo chuyên gia Lê Trung Nghĩa, nếu muốn đi theo con đường tài nguyên giáo dục mở thì khuyến nghị về tài nguyên giáo dục mở của UNESCO năm 2019 đã hướng dẫn chi tiết năm việc phải làm là: xây dựng năng lực của các bên tham gia đóng góp để tạo lập truy cập, sử dụng, tùy biến thích nghi và phân phối lại tài nguyên giáo dục mở; phát triển chính sách hỗ trợ; khuyến khích tài nguyên giáo dục mở chất lượng bao hàm toàn diện và công bằng; sáng tạo các mô hình bền vững cho tài nguyên giáo dục mở; và tạo thuận lợi cho hợp tác quốc tế. Chúng ta chỉ cần bám chặt vào những hướng dẫn đó và điều chỉnh tùy theo điều kiện của mình.
Thực tế, một số thư viện đại học đã ý thức được xu hướng mở và đang hướng đến mục tiêu này. Theo TS. Nguyễn Hoàng Sơn - Giám đốc Trung tâm Thông tin - Thư viện ĐH Quốc gia Hà Nội, thư viện của Đại học Quốc gia Hà Nội hiện đã mở gần như 100% kho tài liệu nội sinh của mình gồm luận văn, luận án, kết quả nghiên cứu, để người dùng có thể truy cập miễn phí. Nhờ đẩy mạnh số hóa các tài liệu trong vòng 10 năm qua, kho tài liệu nội sinh của thư viện đã xếp hạng 54 trong tổng số 3803 kho tài nguyên số nội sinh toàn cầu theo đánh giá năm 2021 của Cybermetrics Labs. Đồng thời, việc chủ động mở kho tài nguyên phong phú cũng giúp tăng chỉ số trích dẫn cho các nhà nghiên cứu trong trường.
Những nỗ lực này mới chỉ là một phần của mở. "Tôi nghĩ câu chuyện tới đây là phải tiếp tục nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực bởi vì, hệ thống bây giờ mới được một chiều là thả dữ liệu vào cho người dùng đọc. Nhưng tài nguyên giáo dục mở lại không phải như thế - nó là thứ mà người sử dụng được quyền chỉnh sửa bản gốc, tương tác hai chiều", chuyên gia Lê Trung Nghĩa nói với báo KH&PT vào năm 2021. "Do đó việc quản lý cũng sẽ phải rất khác, chẳng hạn phải có DOI (digital object identifier - một số xác định đường dẫn link vĩnh cửu) cho các tài liệu số - thứ mà Việt Nam chưa có chỗ nào quản lý".
Và để việc liên thông và mở phát huy hiệu quả cao nhất, chuyên gia Lê Trung Nghĩa cũng nhấn mạnh, "điều tối cần thiết là phải tập trung vào làm rõ các quyền bản quyền và chuẩn hóa nội dung/dữ liệu sẽ được tập hợp trên nền tảng đó từ các cơ sở khác nhau. Các bước triển khai để xuất bản nội dung/dữ liệu lên nền tảng số, mở đó phải rõ ràng và tạo điều kiện thuận lợi để từng bên cung cấp nội dung có được lựa chọn như họ mong muốn nhưng vẫn tuân thủ việc chuẩn hóa đó. Ngoài ra, để nền tảng số mở đó phát huy tác dụng, nó cần phải được chính sách, đặc biệt là chính sách cấp phép mở, ở mức quốc gia tạo thuận lợi".
Ông cũng lưu ý, ứng dụng và phát triển tài nguyên giáo dục mở không đồng nghĩa với tất cả là miễn phí, và giảng viên cần được đền bù xứng đáng khi thiết kế/tạo lập tài nguyên giáo dục mở. Bên cạnh đó, theo anh Phạm Đăng Phúc - đại diện của một công ty chuyên cung cấp cơ sở dữ liệu và làm việc với nhiều nhà xuất bản trên toàn cầu, việc xây dựng và chia sẻ tài nguyên mở cần gắn với cơ chế sử dụng và đóng góp công bằng. Thực tế, tại Thái Lan, mỗi tháng dự án đều thống kê số lượt mượn và tải về của tài liệu, từ đó cuối năm xác định trường nào sử dụng nhiều nhất, trường nào đóng góp hiệu quả nhất. Trên cơ sở đó, Bộ Giáo dục vừa điều tiết, vừa để các trường tự thỏa thuận với nhau: đơn vị nào sử dụng nhiều thì phải có nghĩa vụ hỗ trợ, đóng góp tương ứng. Cơ chế này nhằm tránh tình trạng một số trường liên tục cung cấp tài liệu nhưng ít được khai thác lại, dẫn đến thiếu động lực duy trì lâu dài.
Và để tài nguyên giáo dục mở phát huy hiệu quả, theo bà Hà Tố Tâm - đại diện Đại học VinUni, các trường nên có một chính sách để thúc đẩy cả việc thực hành giáo dục mở, sử dụng các nguồn tài liệu mở này. Đơn cử, đơn vị của họ đã phát hành một số đầu sách theo giấy phép Creative Commons, tích hợp công nghệ AI để sinh viên có thể tương tác, tra cứu và đọc nội dung thuận tiện. Tuy nhiên, nếu thiếu sự phổ biến và khuyến khích sử dụng, sinh viên khó tiếp cận, còn giảng viên cũng chưa tích cực khai thác nguồn tài nguyên này trong giảng dạy và học tập. "Nếu như chỉ xuất bản tài liệu mở như thế này thì cái sự ‘mở’ mới hướng về sự truy cập mở là chính. Mục tiêu của chúng ta là làm thế nào để các tài liệu này sống được, ứng dụng tốt vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy đại học ở Việt Nam", bà nhấn mạnh.
Bài đăng KH&PT số 1364 (số 40/2025)
Mỹ Hạnh
