
Người lao động làm việc trong thời tiết nắng nóng. Ảnh: Nguyễn Tiến Vinh/ECUE
Chị Đỗ Thị Hồng, người thu gom phế liệu đã hơn bốn mươi năm mưu sinh trên những con phố Hà Nội, là gương mặt quen thuộc ở khu vực Phúc Tân và phố cổ. Mỗi ngày, chị rong ruổi khắp các ngóc ngách, nhặt nhạnh từng tấm bìa các tông bỏ đi để bán lại kiếm sống.
Với chị, mỗi ngày công đều quý như vàng - chỉ cần nghỉ một ngày là mất đi nguồn thu nhập ít ỏi. Có hôm trời nắng chang chang vẫn phải ra đường, có hôm mưa gió tầm tã, chỉ vừa ngớt, chị đã phải khoác áo mưa, xỏ ủng, lội bì bõm trong những bãi rác ướt sũng để kịp nhặt vài tấm phản gỗ hay thanh sắt bị bỏ lại vì ngồi nhà đồng nghĩa với "đói". Nhưng công việc tưởng chừng quen thuộc ấy lại tiềm ẩn vô số rủi ro. Khi trời khô còn dễ giẫm phải mảnh kính, đinh sắt; mùa mưa bão thì nguy cơ càng khó lường: đường trơn, rác ngập, có khi còn gặp rắn, đỉa hay côn trùng cắn. Nếu thiếu ủng hay găng tay, da tay da chân nhanh chóng bị nước ăn, viêm ngứa, loét... Những vết thương nhỏ, lâu ngày thành bệnh mãn tính mà người lao động nghèo không dễ chạy chữa.
Công việc của chị Hồng là điển hình của dạng công việc chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thời tiết, khi người lao động buộc phải lựa chọn giữa việc chống chịu với thiên nhiên hoặc không có thu nhập. Trong khi đó, Việt Nam đang ngày càng phải đối mặt với nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan - từ những đợt nắng nóng kéo dài, rét đậm rét hại cho đến mưa bão, ngập lụt và ô nhiễm không khí ngày một nghiêm trọng. Trong bức tranh ấy, những người lao động ngoài trời - công nhân xây dựng, công nhân vệ sinh, xe ôm công nghệ, shipper giao hàng, người bán hàng rong hay bán hàng vỉa hè - chính là nhóm hứng chịu tác động trực tiếp và rõ rệt nhất, khi công việc của họ gắn liền hoàn toàn với nắng, gió, bụi và mưa, theo Doanh nghiệp xã hội ECUE và mạng lưới Vì một Hà Nội đáng sống, thuộc hoạt động nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật chuyên đề "Thúc đẩy hòa nhập xã hội và thích ứng với biến đổi khí hậu tại TP Hà Nội" do Bộ Ngoại giao và Thương Mại Úc (DFAT) tài trợ thông qua Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam.
Rủi ro kép từ thời tiết cực đoan
Theo nhóm nghiên cứu thuộc Doanh nghiệp xã hội ECUE1, kết quả khảo sát 304 người lao động ngoài trời ở Hà Nội và phỏng vấn sâu 15 trường hợp điển hình cho thấy, thời tiết cực đoan tác động lên người lao động ngoài trời thông qua hai cơ chế rủi ro chính. Cơ chế thứ nhất là rủi ro tích lũy: nắng nóng, rét đậm rét hại, ô nhiễm không khí, tiếng ồn âm thầm bào mòn sức khỏe thể chất và tinh thần của người lao động ngoài trời. Cơ chế thứ hai là rủi ro sự kiện: mưa bão, lụt lội, giông lốc gây gián đoạn công việc ngay lập tức, hư hỏng tài sản và mất thu nhập. "Hai rủi ro này chồng chéo lên nhau, làm trầm trọng thêm tình trạng bấp bênh của người lao động ngoài trời", ông Lê Quang Minh - thành viên nhóm nghiên cứu cho biết. Trong khi đó, đối với những người lao động này, ngày công lao động rất quan trọng, bởi vì chỉ cần ngừng lại là họ không có gì để nuôi sống bản thân và gia đình, PGS. TS. Nguyễn Đức Lộc - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đời sống xã hội (SocialLife) - chỉ ra vấn đề. Theo một nghiên cứu năm 2024 của ông và cộng sự2, thời tiết cực đoan có thể làm giảm 40-50% thu nhập của người lao động ngoài trời trong những tháng cao điểm nắng nóng do phải giảm giờ làm hoặc nghỉ làm.
Những tác động trên có thể được nhìn thấy rõ hơn khi phân theo loại hình lao động. Cụ thể, nhóm lao động xây dựng ngoài trời chịu rủi ro cao về sức khỏe, tai nạn và bệnh nghề nghiệp. Các hiện tượng thời tiết cực đoan, đặc biệt là nắng nóng gay gắt làm giảm năng suất lao động. Đồng thời, nhóm này còn chịu rủi ro về tai nạn nghề nghiệp, khi nhiều công nhân xây dựng ngoài trời còn thiếu thiết bị, hoặc chưa được trang bị đủ các dụng cụ bảo hộ lao động đạt chuẩn. Nhóm lao động dịch vụ ngoài trời (xe ôm, giao hàng, bán hàng rong) có thu nhập bấp bênh, dễ gián đoạn khi mưa bão hoặc lũ lụt, do bản chất công việc yêu cầu phải di chuyển liên tục ngoài đường, địa điểm làm việc không cố định. Ngoài ra, nhóm này cũng chịu ảnh hưởng sức khoẻ từ khói bụi và ô nhiễm không khí, do thường xuyên phải ở ngoài trời. Với nhóm lao động thu gom phế liệu, vệ sinh môi trường làm việc trong môi trường ô nhiễm, thiếu bảo hộ, thường xuyên tiếp xúc với rác thải và hóa chất độc hại, điều kiện thời tiết cực đoan càng làm gia tăng áp lực công việc với nhóm này, đặc biệt là khi có giông bão khiến các cành cây rơi gãy xuống lòng đường. "Những hiện tượng như nắng nóng, bụi mịn hay ô nhiễm không khiến họ gục ngã ngay, nhưng bào mòn dần sức khỏe và khả năng làm việc", ông Lê Quang Minh - thành viên nhóm nghiên cứu cho biết.
Theo một nghiên cứu thực hiện trên bốn thành phố lớn của Việt Nam vào năm 20242, có trên 90% người lao động ngoài trời thường xuyên đối mặt với nắng nóng gay gắt, trong đó 50,8% buộc phải làm việc trong khung giờ cao điểm từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Hậu quả của việc phơi nhiễm kéo dài với thời tiết khắc nghiệt thể hiện qua 21 loại bệnh được ghi nhận, trong đó các vấn đề liên quan đến nhiệt như say nắng, sốc nhiệt và mất nước chiếm tỷ lệ cao nhất (23,8%), tiếp theo là các bệnh về hô hấp, da liễu và cơ xương khớp (14,3%). Nhiều người lao động phải chịu đựng đồng thời nhiều vấn đề sức khỏe, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng lao động và thu nhập.
Đặc biệt, người lao động có khuyết tật còn đối diện với loại trừ kép. "Họ vừa gặp khó khăn trong tiếp cận hạ tầng đô thị khi có mưa bão, ngập lụt hoặc nắng nóng, vừa dễ suy giảm sức khỏe nhanh hơn dưới điều kiện khắc nghiệt. Khả năng thích ứng hạn chế khiến họ đối mặt nguy cơ mất việc và bất ổn sinh kế cao hơn", nhóm nghiên cứu của ECUE viết.
Chỉ có thể dựa vào chính mình, nhiều người lao động tự tìm giải pháp để tồn tại trong nắng nóng, bão lũ như tự trang bị bảo hộ cá nhân (áo mưa, khẩu trang, áo chống nắng,...), tự bổ sung dinh dưỡng, thuốc và các thực phẩm bổ sung, tự điều chỉnh thời gian làm việc (đi sớm, nghỉ trưa dài, làm bù buổi tối) hoặc nghỉ việc. Các biện pháp chủ động của người lao động ngoài trời đa phần mang tính cá nhân và tự phát, dựa nhiều vào nguồn lực hạn chế của người lao động. Điều này giúp họ giảm thiểu rủi ro trước mắt nhưng thiếu bền vững về lâu dài.
Có thể thấy rõ tính thiếu bền vững này khi nhìn vào một nghiên cứu khác2, chỉ 32,8% người lao động có tiết kiệm để ứng phó với tình huống khẩn cấp, trong khi 22,3% có sức khỏe yếu, thường xuyên phải nghỉ làm để điều trị bệnh. "Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn: thu nhập thấp khiến họ khó tiếp cận dịch vụ y tế và trang bị bảo hộ phù hợp, từ đó càng ảnh hưởng nhiều hơn đến khả năng lao động và thu nhập", theo nghiên cứu của Viện SocialLife.
Chưa kể đến, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động này rất thấp, trong khi phần lớn việc tham gia bảo hiểm y tế là thông qua hỗ trợ từ gia đình hoặc tự mua. "Các chính sách từ chính phủ vẫn còn thiếu những biện pháp cụ thể để hỗ trợ đối tượng lao động ngoài trời. Thực tế này trái ngược với các quốc gia như Singapore (có Quỹ Hỗ trợ Thời tiết Khắc nghiệt), Nhật Bản (có bảo hiểm thất nghiệp do thiên tai), hoặc Đài Loan (có Quỹ Hỗ trợ Thu nhập do Thời tiết). Việc thiếu ‘mạng lưới an sinh’ này buộc người lao động phải tiếp tục làm việc ngay cả trong tình trạng thời tiết nguy hiểm", nhóm nghiên cứu của Viện SocialLife cho biết.
Giải pháp nào?
Để bảo vệ người lao động ngoài trời, theo ông Lê Quang Minh, cần đảm bảo sự liên kết giữa chính sách ứng phó thời tiết cực đoan và hệ thống an sinh xã hội, theo nguyên tắc "đúng nhóm, đúng nơi, đúng thời điểm". Nhà nước cần thiết lập ngưỡng an toàn và quyền lợi tối thiểu cho người lao động, đồng thời ưu tiên các nhóm dễ bị tổn thương. Sự phối hợp giữa các ngành - từ lao động, y tế, xây dựng, giao thông, môi trường đến chính quyền cơ sở - cần được tăng cường thông qua cơ chế phản hồi nhanh từ thực tế, hướng tới mô hình bảo vệ có hệ thống thay vì để người lao động "tự xoay xở". "Cách tiếp cận này không chỉ giúp giảm rủi ro về thu nhập và sức khỏe trước mắt mà còn góp phần củng cố sinh kế lâu dài", ông Lê Quang Minh cho biết. Các chính sách này cũng cần phải được cụ thể hóa cho từng địa phương, phải xuống đến từng cơ sở bởi không thể có một chính sách thống nhất cho toàn bộ, đặc biệt là với những nhóm dễ bị bỏ sót và có đặc thù riêng như người lao động ngoài trời, theo ông Nguyễn Hoàng Hà - chuyên gia Luật lao động, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam.
Một trong những giải pháp quan trọng khác là cần cải thiện hạ tầng đô thị theo hướng "xanh hóa" và mở rộng không gian công cộng. Những khu vực hoặc công trình bỏ không có thể được cải tạo thành không gian sinh hoạt chung, nơi người lao động ngoài trời có thể nghỉ chân tạm thời. "Thành phố cũng nên xây dựng thêm các trạm nghỉ có mái che hoặc trạm làm mát ở những điểm tập trung đông lao động như chợ, bến xe, ngã tư. Ngoài ra, khu vực gầm cầu, dưới đường trên cao có thể được quy hoạch thành không gian xanh hoặc nơi tránh trú công cộng, có sẵn các tiện ích như vòi nước uống và nhà vệ sinh công cộng. Việc tăng mật độ cây xanh cũng được coi là giải pháp thiết thực giúp tạo bóng mát và giảm nhiệt độ mặt đường trong những đợt nắng nóng kéo dài", nhóm nghiên cứu của ECUE đề xuất.
Và điều quan trọng là "chính quyền cần tạo điều kiện để người lao động ngoài trời được tham vấn và đối thoại trực tiếp khi xây dựng các chính sách liên quan đến quy hoạch, môi trường và lao động. Song song đó, việc đẩy mạnh truyền thông xã hội để làm rõ vai trò, những khó khăn và rủi ro mà họ phải đối mặt sẽ giúp tăng nhận thức cộng đồng và thúc đẩy hành động hỗ trợ từ chính quyền, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội", nhóm nghiên cứu của ECUE nhấn mạnh.
Nhìn rộng hơn, theo ông Nguyễn Hoàng Hà, chính sách cần hướng đến việc chính thức hóa khu vực phi chính thức - nơi người lao động làm việc nhưng không ký kết hợp đồng (chiếm tỷ lệ hơn 60% người có việc làm) bởi vì những người lao động này đang "vô hình" trong các chính sách bảo vệ - chưa được thừa nhận, chưa được chính thức đưa vào nhóm đối tượng cần được bảo vệ. "Chẳng hạn, Luật Lao động của Việt Nam đã cố gắng mở rộng phạm vi bảo vệ cho nhóm lao động này, nhưng vẫn còn mang nặng tính tuyên truyền. Luật An toàn, vệ sinh lao động cũng vậy, về nguyên tắc, người làm việc trong khu vực phi chính thức đều thuộc phạm vi điều chỉnh của các bộ luật này, nhưng thực tế để thực thi chính sách lại vô cùng khó khăn", ông cho biết.
Chú thích:
[1] Nghiên cứu "Ảnh hưởng của thời tiết cực đoan tới người lao động ngoài trời tại Hà Nội và đề xuất giải pháp ứng phó"
[2] Tác động của biến đổi khí hậu đến sức khỏe của người lao động ngoài trời tại các đô thị Việt Nam: Một báo cáo sơ bộ (Tóm tắt kiến nghị chính sách, ngày 29 tháng 10 năm 2024). Viện Nghiên cứu Đời sống Xã hội.
Bài đăng KH&PT số 1366 (số 42/2025)
Mỹ Hạnh