![]() |
Đầu tư và nâng cao năng lực y tế cơ sở tại địa phương và chăm sóc sức khỏe ban đầu là một điều kiện giúp Việt Nam hiện thực hóa chủ trương miễn viện phí. |
Thế nào là "miễn viện phí"?
Chiều 8/4, tại buổi gặp mặt cán bộ cơ quan chi viện chiến trường miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết sẽ chú trọng phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, tiến tới miễn viện phí cho người dân. Chủ trương này đã nhận được sự đồng tình và kỳ vọng rất lớn khi có thể giúp giảm gánh nặng chi phí y tế cho người dân, trung bình là gần 10,2 triệu đồng/năm với người có khám chữa bệnh nội trú và 1,8 triệu đồng/năm với người có khám chữa bệnh ngoại trú, theo kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2024.
Tuy nhiên, chủ trương này có đồng nghĩa với việc người dân có thể sử dụng mọi dịch vụ tại các cơ sở y tế mà không cần trả tiền? Bản chất của chủ trương này, theo các chuyên gia tại Tọa đàm chính sách "Đường đến miễn viện phí tại Việt Nam" do Cộng đồng nghiên cứu Chính sách Y tế Việt Nam (VCHPR) tổ chức ngày 19/7, là Universal Health Coverage - UHC. UHC tạm dịch là "bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân" - một cơ chế cho phép tất cả mọi người đều được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cần thiết, chất lượng và hiệu quả mà không gặp khó khăn tài chính. UHC chỉ bao gồm những dịch vụ y tế thiết yếu, cơ bản và người dân chi trả cho các dịch vụ này dựa trên năng lực tài chính của mình. Chẳng hạn, người có tiềm lực tài chính sẽ chi nhiều tiền cho các dịch vụ cao cấp, trong khi người có hoàn cảnh khó khăn sẽ dùng các dịch vụ khám chữa bệnh, thuốc men cơ bản miễn phí.
Theo bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm Y tế (Bộ Y tế), mấu chốt của chủ trương miễn viện phí là mở rộng bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân, tập trung vào tăng độ bao phủ và phạm vi chi trả và giảm tỷ lệ đồng chi trả của người bệnh. Đây cũng được cho là một trong những trụ cột của UHC trên toàn thế giới. Hiện nay ở Việt Nam, mức độ bao phủ của bảo hiểm y tế đang ở mức cao (94% dân số) nhưng 40 - 45% chi phí khám chữa bệnh vẫn đến từ tiền túi của người dân.
Mục tiêu khả thi?
Ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright Việt Nam, thừa nhận chủ trương miễn viện phí - mà thực chất là UHC - là một mục tiêu rất khó hiện thực hóa với Việt Nam. Chủ trương được đề xuất dựa trên niềm tin vào triển vọng phát triển kinh tế rất lạc quan của nước ta trong những năm tới cũng như những đột phá về thể chế và chính sách nhằm tiết kiệm ngân sách để tăng chi cho các dịch vụ xã hội. Mặc dù việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy mới đây thực sự đã giúp tiết kiệm được một khoản đáng kể chi thường xuyên cho ngân sách nhà nước, ông cho rằng mục tiêu tăng trưởng GDP 8% trong năm nay và hai con số trong giai đoạn sau lại thách thức hơn rất nhiều do những động lực để Việt Nam tăng trưởng nhanh không còn nữa. Động lực tăng trưởng dân số và lực lượng lao động đang đối mặt với "xu hướng không cưỡng lại được" là tỷ suất sinh ngày càng giảm và bước qua đỉnh "dân số vàng". Muốn bù đắp sự suy giảm này bằng tăng năng suất lao động, đặc biệt nhờ sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa, cũng có "rất nhiều yếu tố bất trắc", ông cho biết.
Hơn nữa, nhu cầu sử dụng các dịch vụ giáo dục, y tế của người dân chắc chắn sẽ ngày càng tăng cao nên gánh nặng chi tiêu của ngân sách nhà nước và Quỹ BHYT cho các dịch vụ xã hội cũng sẽ càng lớn hơn chứ không thể giảm được, ông Nguyễn Xuân Thành phân tích. Vì vậy, xu hướng trong thời gian tới có thể là người dân được giảm áp lực viện phí, học phí nhưng lại tăng áp lực về nghĩa vụ thuế. Ngoài ra còn là nỗi lo về quá tải cơ sở hạ tầng khám chữa bệnh. ThS. Nguyễn Hoài Anh, VCHPR, thống kê trong năm 2024, trung bình các cơ sở y tế phục vụ khoảng 15 triệu lượt khám chữa bệnh/tháng (bao gồm 1,2 triệu lượt khám nội trú), trong khi cả nước chỉ có khoảng 140.000 bác sĩ và 340.000 giường bệnh. Chỉ cần số lượt khám tăng thêm 3 - 5% do chủ trương miễn viện phí hoặc miễn phí khám sức khỏe định kỳ cũng có thể đặt áp lực rất lớn cho các cơ sở y tế, ông nhận định.
Ngay cả khi đảm bảo được nguồn ngân sách cần thiết, "y tế cũng chỉ là một trong rất nhiều ưu tiên phải chi khác", ông Nguyễn Xuân Thành nói. Trong những nhiệm vụ "bàn làm, không bàn lùi", miễn viện phí được đặt lộ trình đến năm 2035, trong khi miễn học phí, xây dựng đường sắt cao tốc Bắc - Nam, phát triển đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh hay xây dựng nhà máy điện hạt nhân đã được bắt tay vào làm ngay.
Trước nhiều yếu tố không quá thuận lợi như vậy, ông Nguyễn Xuân Thành cảnh báo chủ trương miễn viện phí rất dễ rơi vào tình trạng thực thi một cách hình thức: Hoặc người dân phải chịu mức đóng BHYT và thuế cao hơn để tăng mức chi trả của bảo hiểm cho các dịch vụ, hoặc các cơ sở y tế sẽ cung cấp miễn phí một vài dịch vụ y tế cơ bản (như khám sức khỏe định kỳ) với chất lượng hạn chế. Còn việc triển khai miễn viện phí thực chất bằng cách cải cách mạnh mẽ để tăng trưởng kinh tế vượt bậc, nâng cao năng lực quản trị và chống tham nhũng như tầm nhìn của các nhà lãnh đạo Việt Nam "sẽ là thách thức vô cùng lớn, là một cánh cửa hẹp", ông nhận xét.
Lách qua "khe cửa hẹp"
TS. Jonathan Pincus, Giám đốc Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright Việt Nam, cho biết có mâu thuẫn lớn giữa nguyên tắc và thực trạng triển khai của UHC ở Việt Nam và trên thế giới. Đáng lẽ người càng gặp khó khăn về tài chính thì càng phải được nhận nhiều hỗ trợ từ chủ trương này, nhưng trên thực tế, người có thu nhập cao lại đang được hưởng trợ cấp từ BHYT lớn hơn so với những người có thu nhập thấp. Lý do là nhóm thu nhập cao thường có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế dễ dàng hơn, nhiều hơn.
Như đã nói ở trên, BHYT chỉ là một trụ cột để thực hiện UHC, bên cạnh những trụ cột khác ít được nhắc đến như nguồn vốn đến từ thuế, hạ tầng y tế cơ bản... Để hóa giải mâu thuẫn này, TS. Jonathan Pincus cho rằng Việt Nam cần những chính sách thuế công bằng, đảm bảo những doanh nghiệp, cá nhân có thu nhập cao hơn phải đóng góp nhiều hơn trong cung cấp các dịch vụ xã hội. Ngoài ra, nên có các biện pháp truyền thông chính sách hiệu quả để những người thu nhập thấp, yếu thế cũng hiểu đúng về chính sách và nắm được những quyền lợi của mình, đảm bảo sự công bằng hơn trong thụ hưởng chính sách.
Việt Nam cũng cần ưu tiên đầu tư và nâng cao năng lực y tế cơ sở tại địa phương và chăm sóc sức khỏe ban đầu, vừa để tạo điều kiện cho người dân ở những vùng khó khăn nhất được tiếp cận dịch vụ y tế, vừa giảm bớt gánh nặng và chi phí khám chữa bệnh cho tuyến trên. TS. Jonathan Pincus đánh giá mạng lưới và năng lực y tế cơ sở của Việt Nam nhìn chung tốt hơn so với nhiều quốc gia trong khu vực nhưng vẫn cần cải thiện hơn nữa, đặc biệt ở khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa khi điều kiện kinh tế của đất nước đang tốt lên. Ông Nguyễn Xuân Thành nhấn mạnh đây không chỉ là vấn đề tăng ngân sách đầu tư mà còn là nâng cao năng lực quản trị đầu tư công và chống tham nhũng để đảm bảo việc đầu tư cho các cơ sở khám chữa bệnh hiệu quả, tránh trường hợp lãng phí, bỏ không.
Bài đăng KH&PT số 1355 (số 31/2025)
Trà My
