Một buổi sớm mùa xuân năm 1835, người lính Quảng Ngãi tên Lê Văn Nguyên ngồi trên chiếc thuyền quân từ Gia Định về kinh thành Huế. Tay chân ông bị xiềng chặt. Ông thở dài. Đến mức phải giải về kinh để Binh bộ tra xét trong khi khói lửa ở Gia Định đang khốc liệt thì hẳn tội trạng của ông phải nghiêm trọng lắm. Chuyến này ắt lành ít dữ nhiều. Ông không ngờ rằng gần ba năm sau, vào tháng Chạp năm 1837, đầu ông vẫn còn trên cổ. Không những thế, ông còn là một người thị vệ, đang trên thuyền công để đi Giang Lưu Ba (tức Jakarta, Indonesia) theo lệnh nhà vua.
Nguồn cơn của hành trình kỳ lạ ấy bắt nguồn từ một đêm nghịch ngợm của người lính này.
Lê Văn Nguyên được phong làm ngũ đẳng thị vệ, tức là binh sĩ trực tiếp phục vụ nhà vua.
Lê Văn Nguyên khi ấy là phó suất đội vệ Quảng Ngãi, tuy không phải lính trơn nhưng địa vị cũng không hơn tiểu tốt là mấy. Đội của ông được phái tham gia đoàn quân bao vây thành Bát Quái ở Gia Định đang nằm trong tay quân nổi dậy của Lê Văn Khôi. Thành được xây từ thời Gia Long theo kiểu pháo đài dạng sao của châu Âu, cực kỳ kiên cố, súng pháo tân tiến nhất cũng không xuyên thủng nổi. Cuộc vây hãm do vậy kéo dài hàng năm trời. Phe triều đình cũng đắp một trường lũy bằng đất để ẩn nấp khỏi súng đạn của quân Lê Văn Khôi trong cuộc đụng độ dai dẳng.
Đại Nam thực lục chính biên - Đệ nhị kỷ - quyển 143 chép rằng:
Gia Định quân thứ có phó suất đội Quảng Ngãi vệ Lê Văn Nguyên giỏi chế đèn bay Thừa Vân (vốn tên gọi là Yên Đăng). Đêm thả ở mặt phải trường lũy. Thị vệ nhân đến có việc công, khi trở về, đem việc ấy tâu lên. Vua Minh Mạng dụ: "Ngay một việc nhỏ này, có thể thấy rằng quân lệnh không nghiêm. Tuy xét việc không có tình ý gì khả nghi, nhưng ban đêm mà thả đèn bay, không khỏi động chạm đến tai mắt làm cho mọi người phải chú ý. Y là một tên lính, sao dám tự tiện chế ra mà thả như thế? Chắc rằng viên cai quản là Tôn Thất Cung đã khinh suất cho phép. Vậy mà các Tướng quân, Tham tán hoặc Lãnh binh ở tấn sở đương lúc ấy cũng không hỏi gì đến, chẳng hóa ra họ đã bỏ vắng không canh phòng đêm hôm ấy sao? Vậy phải truyền chỉ nghiêm quở. Còn tên Lê Văn Nguyên, chuẩn cho hẵng đưa về Kinh để bộ xét nghiệm, nếu quả là tình thực thì cho miễn tội, nếu là giả dối bậy bạ thì trị tội nặng, không tha. [1]
Có lẽ trong một đêm chán chường, Lê Văn Nguyên đã giải khuây cho đồng đội bằng cách chế một chiếc đèn trời. Sự việc sẽ không có gì to tát nếu đêm hôm ấy không có thị vệ tai mắt của nhà vua có việc ở mặt trận và tình cờ trông thấy. Để bản thân đắc tội và còn làm liên lụy thượng cấp vì một trò chơi vặt vãnh, trong lòng ông khi ấy hẳn chất chứa biết bao hối tiếc.
Nguồn: Wikimedia
Nhưng trái với tưởng tượng, đón chờ Lê Văn Nguyên ở kinh không phải những cuộc thẩm vấn khắc nghiệt, những đại hình tàn khốc, mà là cuộc thử tài của nhà vua: vua sai ông chế đèn đó đem dâng. Sau khi thấy tận mắt, vua khen ngợi sự tinh xảo của nó và tưởng thưởng bằng cách đề bạt Lê Văn Nguyên làm ngũ đẳng thị vệ, tức là binh sĩ trực tiếp phục vụ nhà vua.
Từ nghi phạm chờ đợi xét xử, Lê Văn Nguyên trở thành một nhân tài được nhà vua thừa nhận và "tuyển mộ".
Ngài cũng truyền chỉ cho các Tướng quân, Tham tán và Lãnh binh hễ ai có mưu hay, chước lạ cũng phải đến cửa quân trình bày để thi hành, nếu tự tiện hành động thì bắt tội, để cho quân luật được nghiêm.
Rõ ràng, thứ vua Minh Mạng mưu cầu không chỉ là sự tuân phục của binh tướng, mà còn là sức sáng tạo và trí tuệ của họ.
"Du học" ở Jarkata và chế tạo máy bơm nước
Thị vệ Lê Văn Nguyên lại tái xuất gần ba năm sau đó, trong quyển 187, Đại Nam thực lục chính biên - Đệ nhị kỷ. Theo sách sử ghi, tháng Chạp năm 1837, vua sai các quan Lê Bá Tú, Nguyễn Tri Phương, Vũ Văn Trí chia nhau coi các hiệu thuyền Phấn bằng, Thụy long, Linh phượng - tức các thuyền buồm lớn đóng kiểu phương Tây - đi làm việc công ở Bột Nê (Borneo), Giang Lưu Ba (Jakarta) và Hạ Châu (Malaysia). Lại phái Thị vệ Lê Văn Nguyên theo đến Giang Lưu Ba học tập máy móc. [1]
Lúc này Jakarta nằm dưới sự cai trị của thực dân Hà Lan. Đây là một trong những giao điểm chủ chốt của thương mại và tri thức, nơi công nghệ mới mẻ của phương Tây tuôn chảy vào Đông Nam Á. Chúng ta không biết gì về chuyến "du học" ngắn ngủi của Lê Văn Nguyên, nhưng diễn biến tiếp theo cho ta biết ông đã tiếp thu được nguyên lý về những loại máy móc cực kỳ đắc lực cho sản xuất của quê nhà.
Một dạng "thủy xa", tức bơm guồng đạp chân kiểu Á Đông, mà người Việt đã dùng từ lâu trước thời Lê Văn Nguyên. Ảnh: Hình 3D do Đông Nguyễn thiết kế
Tháng 5 năm sau (1838), Lê Văn Nguyên đã về nước, và lần này ông vận dụng tài năng trong chế tạo, cùng những tri thức học được từ ngành cơ khí phương Tây để một phen trên thì báo đền ơn vua, dưới thì cứu giúp nạn dân.
Quyển 193 của Đại Nam thực lục chính biên trên viết rằng tình hình lúc đó khá nguy nan:
Tháng 5, trong Kinh liền mấy tuần ít mưa, sai thự tham tri Binh bộ Phan Bá Đạt cầu đảo ở miếu Nam Hải long vương, không ứng nghiệm, lại đổi phái Thị lang Lại bộ Tôn Thất Bạch đến miếu đô Thành hoàng, Tham tri Binh bộ Đào Trí Phú đến đền Thái Dương cầu đảo, khoa đạo là bọn Võ Danh Thạc, Nguyễn Văn Đạt, Hoàng Thu dâng sớ xin cho ở Kinh và tỉnh ngoài, sửa sang các việc hình ngục, để cầu khí hòa của trời. [1]
Nhà nông nguy cơ mất mùa, nhân dân thì đứng trước vực thẳm nạn đói, vậy mà các vị long vương, thành hoàng... bốn mùa được hương hỏa dường như lại làm ngơ, hoặc cũng bó tay, không thể khiến mưa xuống. Nhà vua "lấy làm lo lắm, nhân đó phải cảm phong hàn". Ấy là bởi "vương giả dĩ dân vi thiên, nhi dân dĩ thực vi thiên" (câu trong Hán Thư, nghĩa là vua coi dân bằng trời, nhưng dân coi lương ăn bằng trời). Nếu dân phải chịu đói thì uy quyền triều đình cũng ngả nghiêng.
Đúng lúc ấy, "Thị vệ Lê Văn Nguyên đã học được cách làm máy, lấy máy của phương Tây dùng để hút nước tưới ruộng rất tiện, chế ra đem dâng, gặp khi trời nóng lắm, nước ruộng khô cạn, vua sai Công bộ đốc thúc ngay chế tạo 3 cái máy ấy, đưa cho phủ Thừa Thiên chia tưới đồng ruộng."
Việc làm khẩn trương này cho thấy triều đình đã nhìn nhận công nghệ như một công cụ trực tiếp để giải quyết những vấn đề dân sinh cấp bách. Đó không còn là sự chờ đợi mưa thuận gió hòa, mà là nỗ lực chủ động chinh phục hoàn cảnh bằng tri thức và kỹ thuật.
Nhà đổi mới bị lãng quên
Cần phải nói là người Việt đã biết chế tạo máy bơm guồng kiểu "thủy xa" - xe đạp nước bằng chân kiểu Á Đông từ thế kỷ XV, XVI, có lẽ từ việc tiếp thu tri thức trong "Nông thư" của Vương Trinh đời Nguyên [2].
Tuy nhiên, ở thời điểm thập niên 1830, với cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, phương Tây đã cho ra đời nhiều nguyên lý bơm tiên tiến với hiệu suất cao hơn hẳn như bơm trục vít, bơm piston..., thậm chí nhiều nơi bơm được vận hành bằng sức nước, sức gió, động cơ hơi nước mà không cần súc vật đẩy hay người đạp chân.
Các loại máy bơm kiểu phương Tây, thế kỷ XIX vẽ trong sách Bác vật tân biên của bác sĩ Benjamin Hobson, bản của Quán Văn Đường, niên hiệu Duy Tân - Kỷ Dậu 1909, bản kí hiệu NLVNPF-0512-02 thư viện quốc gia Việt Nam.
Chỉ trong chưa đầy 5 tháng ngắn ngủi ở Jakarta, Lê Văn Nguyên đã kịp hấp thụ những công nghệ mới đó. Và ông không cần chờ đợi lâu. Cơ hội để ông đem tài năng, tri thức ra thi thố đã đến ngay mùa hè khi ông trở về.
Chúng ta không được biết cụ thể loại bơm ông chế tạo là gì, nhưng việc nhà vua đánh giá cao đến mức lập tức ra lệnh cho Công Bộ chế tạo liên tiếp ba chiếc để đưa xuống đồng ruộng phủ Thừa Thiên cho thấy công năng vượt trội của chúng.
Từ quê hương nắng gió miền Trung, đến chiến trường Nam Bộ, rồi kinh thành Huế và cả Jakarta xa xôi, hành trình của Lê Văn Nguyên là một cuộc phiêu lưu phi thường. Chúng ta thấp thoáng thấy bóng dáng của ông trong những hậu thế, những người Việt xuất thân từ những miền quê nghèo khó, nhưng với trí tuệ và nghị lực, đã vượt lên trên hoàn cảnh để trở thành những kỹ sư và nhà công nghệ tài năng.
Thế nhưng, trái ngược với tầm vóc của cuộc đời ấy, tên tuổi Lê Văn Nguyên ngày nay hầu như không còn được biết đến, chỉ còn thấp thoáng trong vài dòng trong Đại Nam thực lục. Giữa những trang sử tưởng chừng khô khan ấy hiện lên hình ảnh một con người luôn sẵn sàng học hỏi, dám thử nghiệm và biết biến tri thức mới thành những sáng chế hữu ích cho đất nước.
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 4-5, Viện Sử học dịch, Hà Nội: Nxb Giáo dục, 2007
[2] Trần Trọng Dương, Phạm Vũ Lộc và Nguyễn Ngọc Phương Đông, Lược sử khoa học và kĩ thuật Việt Nam tiền hiện đại (Hà Nội: Nxb Đại học Sư phạm, 2026), tr. 259.