Từ những phát súng hạ gục Chế Bồng Nga đến "súng thần cơ" của Hồ Nguyên Trừng, lịch sử hỏa khí Đại Việt phản ánh một truyền thống sáng tạo công nghệ ít được nhắc tới.
Những dấu vết thuốc súng sớm nhất trên đất Việt
Những dấu vết sớm nhất về thuốc nổ trên đất Việt có thể xuất hiện từ thế kỷ 9. Khi kênh Thiên Uy được Cao Biền cho đào năm 867 (cắt ngang bán đảo Giang Sơn, nằm giữa Móng Cái và Phòng Thành Cảng hiện nay, để cho thuyền bè có thể đi lại an toàn), được sử sách mô tả nhiều lần là những khối đá lớn "tự nổ tung" sau các trận sét đánh.
Một số học giả hiện đại như Franciscus Verellen [1] cho rằng đây có thể là việc sử dụng thuốc nổ để phá đá, rồi được thần thoại hóa thành sự trợ giúp của thiên lôi.
Nếu giả thuyết này chính xác, đây sẽ là một trong những ghi chép sớm nhất thế giới về việc sử dụng thuốc nổ trong công trình dân sự.
Vị trí phỏng đoán của kênh Thiên Uy (tam giác màu đỏ) do Cao Biền đào nằm giữa Móng Cái và Phòng Thành cảng ngày nay, theo nghiên cứu của He Fanneng, Yanag Chao, Zhao Liang (2019) DOI:10.18306/dlkxjz.2019.11.004
Franciscus Verellen nhận định rằng Cao Biền đã dùng thuốc nổ để cho nổ những tảng đá. Bởi Cao Biền chuộng phép phù thủy, thu dùng nhiều đạo gia, thuật sĩ [2], nên chắc hẳn ông ta không lạ lẫm gì với những công thức "luyện đan trường sinh" (nhưng lại gây cháy nhà, chết người) chép trong các sách đạo gia giai đoạn đó.
Chiếu theo cách nói hiện nay thì đó chính là những thí nghiệm hóa học của các đạo sĩ. Ví như, sách đạo gia Chân nguyên diệu đạo yếu lược cùng thời kỳ chép rằng "có kẻ dùng lưu huỳnh, hùng hoàng (α-As4S4: là một khoáng vật arsenic sulfide), tiêu thạch (tức KNO3) cùng mật (tức nguồn Carbon), đốt lên, lửa bùng lên đốt cháy tay, mặt, cháy sạch cả nhà cửa" [3].
Thời điểm súng đạn xuất hiện trên chiến trường Đại Việt
Nhiều bài báo đặt cho Hồ Nguyên Trừng danh xưng "ông tổ pháo binh", nhưng thực tế, súng và đạn đã có mặt trên đất Việt trước khi ông sinh ra rất lâu.
Văn bản sớm nhất chúng tôi khảo được có nhắc đến súng đạn là "Cổ Tích thần từ bi ký- Lịch đại gia ban phụ ký" do Trương Hán Siêu soạn vào năm 1312. Văn bia ca ngợi vị thần Chí Minh Đại Vương đã phù hộ quân Trần chiến thắng vua Champa Chế Chí (Jaya Simhavarman IV) và thu được nhiều chiến lợi phẩm, trong đó bao gồm Súng Đạn (銃磾) [4].
Trên thế giới, nòng súng bắn đạn bằng kim loại cổ nhất tìm được đến nay mà có thể chắc chắn về niên đại là khẩu "Thượng Đô hỏa súng", với văn khắc trên thân súng cho biết năm chế tác là năm Đại Đức thứ hai (1298).
Thượng Đô hỏa súng đúc năm 1298 của nhà Nguyên. Thượng Đô là kinh đô của nhà Nguyên (Trung Quốc). Ảnh: Wikimedia Commons.
Ở Trung Quốc, danh xưng Hỏa Súng cũng xuất hiện lần đầu trong văn bản ghi chép về năm 1287: "... tụ tập tráng đinh người Miêu, các "thập" và "ngũ" cầm hỏa súng liên tiếp" [5]. Đây cùng là năm diễn ra cuộc chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ ba của nước ta. Điều đó cho thấy người Việt tiếp xúc với công nghệ súng đạn gần như ngay từ những giai đoạn đầu tiên của lịch sử hỏa khí Đông Á. Chúng tôi tin rằng khi xâm lược Đại Việt và Champa, quân Nguyên đã mang theo súng đạn, và loại vũ khí mới mẻ này đã trở thành chiến lợi phẩm của người Việt khi đánh thắng quân địch.
Phát súng thay đổi lịch sử năm 1390
Gần 80 năm sau văn bia của Trương Hán Siêu, hỏa súng đã tạo nên khoảnh khắc quyết định nhất của một thế kỷ giao tranh dai dẳng giữa Đại Việt và Champa. Đó là sự kiện vua Champa Chế Bồng Nga bị trúng đạn của quân sĩ dưới quyền tướng Trần Khát Chân và tử trận năm 1390: "Khát Chân lệnh hỏa súng đồng loạt bắn, khiến Bồng Nga bị găm vào ván thuyền mà chết", theo Đại Việt sử ký toàn thư.
Trận chiến diễn ra tại một khúc của sông Luộc, Chế Bồng Nga ngồi trên thuyền ngự, còn Trần Khát Chân phục binh trên bờ. Qua diễn biến trận chiến, có thể thấy hỏa súng nhà Trần có đủ độ chính xác và tầm xa để thực hiện việc pháo kích chính xác vào một thuyền riêng lẻ từ cự ly hàng trăm mét. Năng lượng của đạn đủ xuyên qua các lớp ván thuyền mà vẫn còn động năng để gây chết chóc. Hỏa súng của Trần Khát Chân hẳn là những cỗ đại bác nòng lớn có tầm bắn xa và sức tàn phá cao.
Hình bên trái, cốc mồi chữ nhật (mất nắp) và lỗ điểm hỏa để đổ thuốc súng. Hình bên phải, nắp đậy trên cốc mồi trên thân súng. Ảnh: Nguyễn Ngọc Phương Đông
Còn Hồ Nguyên Trừng, tuy không phải người phát minh ra súng, nhưng ông đã có những cải tiến quan trọng với "súng thần cơ" (nghĩa đen là "súng máy thần"). Theo giáo sư Sun Laichen, Hồ Nguyên Trừng đã có một cải tiến quan trọng với lịch sử quân sự thời đó là phát minh "cốc mồi" (ông đúc thêm một bộ phận giống như cái cốc hoặc cái phễu, có nắp đậy). Khi đổ thuốc mồi vào cốc mồi và đậy lại, binh lính có thể chạy nhảy, hành quân dưới mưa mà không sợ thuốc mồi văng ra ngoài hay bị ẩm [6].
Đến tận giữa thế kỷ 19, ô chữ nhật (về sau gọi là "chảo chớp") và nắp đậy vẫn là một bộ phận thiết yếu của các loại súng tân tiến hơn trên thế giới. Tức là trong suốt khoảng 500 năm, người ta vẫn sử dụng nó. Chỉ đến khi phương Tây phát minh ra hạt nổ bằng va đập thay cho thuốc mồi thì bộ phận đó mới biến mất. Đó là một trong những ví dụ của những sáng tạo công nghệ của Việt Nam đã lan tỏa ra thế giới.
Thời Lê: Đại Việt có thể liệt vào hàng "tiểu đế quốc thuốc súng"
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép rằng sau khi chiến thắng quân Minh, vua Lê Thái Tổ định lại quy chế quân ngũ. Đáng chú ý là sự xuất hiện của "Hỏa Đồng" 火筒 ("ống lửa").
Khẩu hỏa đồng số hiệu 222 của Chấn Uy vệ Hữu sở thời Lê, đặt tại Bảo tàng Lịch sử quân sự. Ảnh: Nguyễn Ngọc Phương Đông
Sử liệu cho thấy có 4 cỡ hỏa đồng: Đại Tướng Quân, Đại Dạng, Trung Dạng và Tiểu Dạng. Hỏa đồng là một dạng súng, trong đó loại Đại Tướng Quân, Đại Dạng và Trung Dạng có lẽ là đại bác do nhiều người vận hành, còn Tiểu dạng là súng nhỏ cầm tay của cá nhân. Thời Lê Nhân Tông, đổi tên hai quân Hỏa đồng thành quân "Thần lôi, Thần điện", ý tứ là coi sức công phá và tốc độ của đạn sánh ngang với sấm sét.
Theo ước tính của GS. Sun Lai Chen, dưới thời Lê Thánh Tông, tỷ lệ binh sĩ sử dụng súng là trên 38%, nghĩa là cứ 10 người lính thì có 4 người được trang bị súng. Điều này cho thấy tầm quan trọng của hỏa khí trong học thuyết quân sự triều Lê Sơ.
Nếu tạm thời giả định rằng tỷ lệ 38% này phản ánh tương đối chính xác toàn bộ quân đội Đại Việt (ước tính vào khoảng 260.000 người) trong các thập niên 1460–1480, thì tỷ lệ binh sĩ được trang bị hỏa khí của Đại Việt đã ngang hàng, thậm chí cao hơn nhà Minh. Khoảng một phần ba quân đội Trung Quốc vào năm 1466 được trang bị vũ khí thuốc súng [6].
Súng thần công thời Lê Trung hưng, thế kỷ 17, được phát hiện năm 2003, tại khu khảo cổ số 18 Hoàng Diệu, Trung tâm hoàng thành Thăng Long, Hà Nội. Ảnh: Cục Di sản cung cấp
GS. Sun Lai Chen nhận định, con số này đủ để xếp Đại Việt vào nhóm một "đế quốc thuốc súng" quy mô nhỏ (gunpowder empire), đồng thời tạo sức mạnh quân sự cần thiết để khuất phục các đối thủ, bao gồm người Chăm và các nhóm Thái–Lào. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng những hiện vật đã khảo sát chỉ đại diện cho một tỷ lệ rất nhỏ của tổng số thực tế, vốn rất có thể lớn hơn nhiều. Cũng cần lưu ý rằng cho đến nay chúng ta mới chỉ xem xét các loại hỏa thương cầm tay và trụ súng (bombard), chứ chưa bàn đến các loại thần công lớn (cannon), vốn cũng là một bộ phận quan trọng trong kho vũ khí của Đại Việt.
Bác sĩ người Bồ Đào Nha là Tome Pires đã đến Đại Việt vào khoảng năm 1511- 1512 và mô tả về kho súng đạn dồi dào của vua Lê như sau: "Giao Chỉ rất nhiều ngựa. Giao Chỉ vương hiếu võ, dưới trướng có vô vàn súng tay và đại pháo nhỏ. Hỏa dược được người trong nước dùng cực nhiều, bất kể là trong việc binh đao hay hành lạc" [7].
Như vậy trong nhiều giai đoạn, người Việt đã làm chủ, cải tiến và triển khai hỏa khí ở quy mô thuộc hàng tiên tiến của khu vực. Nhưng rất tiếc, đến thời cận đại chúng ta đã tụt lại sau vũ khí phương Tây.
Kỳ 2: Khi công nghệ vũ khí phương Tây bắt kịp và vượt Á Đông
--
Tài liệu tham khảo:
[1] Franciscus Verellen, 2019, ‘La réalisation du Chenal de la puissance céleste sous la Chine des Tang: Sources épigraphiques et archéologiques’, Bulletin de l’É cole française d’Extrême-Orient 105 (2019), 229–253
[2] Phạm Lê Huy, 2015, Phép thuật Cao Biền tại An Nam- từ ảo tượng đến chân tướng", Nghiên Cứu Tôn giáo, số 03 (141), 2015, tr. 105-132
[3] Gốc là "有以硫黃、雄黃合硝石,并蜜燒之,焰起燒手面,及燼屋舍者." - trích trong Trịnh Tư Viễn, "Chân nguyên diệu đạo yếu lược", https://zh.wikisource.org/wiki/真元妙道要略 (truy cập ngày 3/6/2026)
[4] Đinh Khắc Thuân, 2021, "Văn bia chữ Hán Việt Nam thời Bắc thuộc đến đời Trần", NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.395.
[5] Gốc là " 糾集丁壯苗軍,火銃什伍相聯 " - trích trong Tống Liêm 宋濂, "Nguyên sử, Liệt truyện đệ cửu thập lục, Ngoại di nhị" 元 史 - 列傳第九十六 外夷二, https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&chapter=682055&remap=gb#p2 (truy cập ngày 3/6/2026)
[6] Sun Lai Chen ,"Chinese-Style Firearms In Dai Viet (Vietnam): The Archaeological Evidence", Singapore, WEAPONS, FORTS AND MILITARY STRATEGIES IN EAST ASIA – II, International Edition 27, tr. 38.
[7] "Tomé Pires, 1944, 'The Suma oriental of Tomé Pires: an account of the East, from the Red Sea to Japan, written in Malacca and India in 1512-1515 ; and, the book of Francisco Rodrigues, rutter of a voyage in the Red Sea, nautical rules, almanack and maps, written and drawn in the East before 1515', London : The Hakluyt Society, https://archive.org/details/McGillLibrary-136385-182/page/n239/mode/2up, tr. 313