Cảnh quân Tây Sơn dùng hỏa khí đánh tan quân Thanh. Nguồn hình: Kaovjets Nguyens, "Lôi động tinh phi"
Cho đến thời Lê, tỷ lệ binh sĩ được trang bị hỏa khí của Đại Việt đã ngang hàng nhà Minh. Việt Nam có 300 năm liên tục cập nhật hỏa khí không hề kém phương Tây nhưng rồi bị bỏ xa vào cuối thế kỷ 19.
Chúa Trịnh, Nguyễn và "Lôi động, Tinh phi"
Tiểu thuyết Việt Nam Khai Quốc Chí Truyện có dòng mô tả rất sống động của nhà văn Nguyễn Khoa Chiêm về một cảnh chiến đấu giữa quân đội Trịnh và Nguyễn thế kỷ 17: "súng như lôi động, đạn nhược tinh phi" (súng giật như sấm, đạn bay như sao). Điều đó khác xa với tưởng tượng của công chúng rằng thời kỳ này chúng ta chỉ chiến đấu bằng gươm, giáo, cung, nỏ.
Nói về kỹ thuật, theo Samuel Baron, người đã sống ở Đàng Ngoài thế kỷ 17, các xạ thủ của chúa Trịnh "là những thiện xạ, về mặt đó, tôi tin rằng họ không thua kém ai, và vượt trội hơn các nước khác về sự khéo léo khi sử dụng cũng như tốc độ bắn".[1]
Xạ thủ ngắm bắn súng hỏa mai, diễn họa từ mảng chạm khắc đình Hạ Hiệp. Nguồn hình: Đông Nguyễn.
Tưởng chừng súng đạn nạp hậu (nạp đạn và thuốc vào phía sau nòng) là vũ khí hiện đại, thế nhưng tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai hiện vẫn còn một cỗ đại bác nạp hậu rất nguyên vẹn, niên đại từ thế kỷ 16 đến 18, được khai quật ở di chỉ thành cổ Trung Đô.
Nòng súng được chế hoàn toàn bằng đồng, phía đuôi có khoét lỗ để gắn buồng đạn vào. Các buồng đạn sẽ được nạp sẵn, cho phép súng đạt tốc độ bắn rất cao. Đây là thiết kế kiểu phương Tây mà nhà Minh gọi là Phật Lang Cơ (佛狼機 - nghĩa là "máy người Frank" - khi đó người Tây Âu đều được người Arab và Trung Quốc gọi là người Frank).
Đại bác nạp hậu thành cổ Trung Đô đặt tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai. Ảnh: Thành Nguyễn.
Ngay từ thời chúa Nguyễn Hoàng, Đàng Trong đã buôn bán hoặc tịch thu hỏa khí của người phương Tây vì nhận ra sự lợi hại của họ. Hai khẩu súng đồng ở hành cung Vinh, hai khẩu súng đồng ở Bảo tàng Cổ vật Cung Đình Huế cũng như cỗ súng đồng ở Xuân Thiều - Đà Nẵng, đều là công nghệ thế kỷ 17 của công ty Đông Ấn Hà Lan (Vereenigde Oostindische Compagnie - V.O.C).
Tuy nhiên, theo Đại Nam thực lục tiền biên, năm 1631, các chúa đã đặt Ty Nội Pháo Tượng, tự đúc được các loại súng, pháo. Thành viên của Ty này là những người "giỏi đúc pháo", chứng tỏ các chúa đã bắt tay vào tự chế tạo hỏa khí kiểu phương Tây rất lâu trước mốc năm 1631, bởi để có vài xã lành nghề trong lĩnh vực này thì không thể chỉ trong ngày một, ngày hai.
Khẩu đại bác cỡ nhỏ "Thần uy tướng quân", được đúc bằng đồng vào năm 1817 (thời Gia Long), dùng để chống lại đại bác của quân đội Pháp (các khẩu màu đen, to hơn, đúc bằng gang). Các khẩu đại bác hiện lưu trữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử TP. HCM. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên/CC-BY
Những sáng tạo riêng có
Không chỉ sao chép vũ khí phương Tây, thời Lê Trung Hưng còn là giai đoạn cho ra đời nhiều loại hỏa khí sáng tạo cho phù hợp điều kiện Việt Nam.
Với đặc trưng chiến trường Việt Nam và các nước xung quanh sử dụng nhiều voi chiến, phải kể đến các loại súng và đạn chuyên khắc chế voi. Trụ Súng là loại pháo binh hạng nhẹ dã chiến, có cỡ nòng từ 20-40mm, có giá 3 chân tháo rời được nên có thể được mang vác theo bộ binh và rất hiệu quả trong chống voi chiến. Trong trận Trình Cù giữa quân Trịnh và quân khởi nghĩa Lê Duy Mật, quân Trịnh dùng Trụ Súng dàn ra bắn thẳng vào voi chiến của Lê Duy Mật, khiến quân voi không dám xông lên. [2]
Nguồn hình gốc: Tranh vẽ Trụ súng trong sách Kỹ thuật của người An Nam, Henry Oger
Ngoài ra quân Trịnh còn chế tạo 1 loại đạn đặc dị là "Hỏa Ngạnh" (ngạnh lửa). Hỏa Ngạnh được mô tả là "như pháo, dài khoảng 2 tấc (khoảng 84 mm), đầu có ngạnh sắt và mũi nhọn lửa, lửa của ngạnh cháy rất mạnh, đâm vào da voi thiêu phá" [2]. Qua mô tả, có thể phỏng đoán Hỏa Ngạnh là loại đạn đầu nhọn, có ngạnh sắt, trên thân chứa các loại chất cháy. Khi nạp vào nòng súng, phần ngạnh sẽ vươn ra khỏi nòng.
Phỏng dựng cảnh "hỏa ngạnh" được nạp vào pháo. Nguồn hình: Kaovjets Nguyens, "Lôi động tinh phi"
Để đạt tốc độ bắn cao, sách Hổ trướng khu cơ cũng đề xuất 1 thiết kế xe gồm nhiều nòng pháo. "Xe ấy có 6 bánh, [...] Lấy dây lửa đốt ở lỗ trên nắp cháy thông vào trong lỗ, lỗ hỏa của súng cháy suốt và ở trong lòng súng thì tự nhiên súng nổ tung đạn ra. [3]
Loại xe súng này được cho là phát minh của nhà quân sự lỗi lạc Đào Duy Từ. Súng đạt mật độ hỏa lực cao bằng cách khai hỏa các nòng cùng một lúc. Như vậy, đạn đạo của súng ổn định, có thể bắn xa như súng, pháo thông thường chứ không bị hạn chế tầm bắn như đạn ghém.
Phỏng dựng diện mạo và kích thước xe súng bắn liền của Đào Duy Từ dựa theo mô tả trong Hổ trướng khu cơ. Nguồn hình: Đông Nguyễn.
Trong binh thư Tâm Nang Thư, chúng ta còn thấy phiên bản nhỏ hơn, một người có thể cầm tay, với các nòng chế bằng ống tre, gọi là "Phục Lộ Trúc Súng" 伏路竹銃 (súng tre mai phục ven đường). Mỗi khẩu gồm 12 nòng, cũng được xếp hình rẻ quạt trong một hòm (để đường đạn tỏa ra tứ phía, có thể sát thương rộng) [4].
Đây chắc hẳn là giải pháp "tình thế" khi súng lớn và kim loại không sẵn có. Tuy chưa thể so với súng máy của thời đại công nghiệp, súng bắn nhiều phát của Đào Duy Từ đã là một giải pháp công nghệ để tăng hiệu suất chiến đấu cho xạ thủ, lấy chất lượng bù số lượng.
Nguồn hình gốc: Tranh vẽ Phục Lộ Trúc Súng (súng nhiều nòng bằng tre) trong sách Tâm nang thư, Viện nghiên cứu Hán Nôm, bản kí hiệu AB.607
Như vậy từ thế kỷ 15 - 17 có thể coi là giai đoạn vàng của hỏa khí Việt Nam, với việc tiếp thu, làm chủ nhanh chóng những loại súng đạn tối tân của phương Tây lẫn việc tích cực sáng tạo, cải tiến cho phù hợp điều kiện trong nước.
Tuy nhiên, đến thời Nguyễn, ngành chế tạo hỏa khí của nước ta lại thụt lùi so với phương Tây và bị người Pháp áp đảo.
Không đủ nguyên liệu cho một nền công nghiệp quốc phòng tiền hiện đại
Sau cuộc giao tranh cuối vào năm 1672, hai miền Đàng Trong - Đàng Ngoài hưu chiến. Trải qua nhiều thập niên tương đối bình lặng, việc binh bị của hai miền đều có phần bê trễ. Các chúa không những không cập nhật công nghệ hỏa khí, mà còn bỏ bê việc tu dưỡng, bảo trì và huấn luyện pháo binh.
Vào năm 1750, thương nhân Pháp ở Đàng Trong là Pierre Poivre cho hay: "họ không thèm để ý hoặc lưu tâm đến việc sử dụng các khẩu súng này. Không khẩu pháo nào có được 6 viên đạn, và đạn cũng chẳng vừa cỡ nòng" [5]. Đây chính là những dấu hiệu đầu tiên cho sự "hụt hơi" của ngành quân khí Việt Nam.
Binh sĩ cầm điểu thương gắn lưỡi lê trong bức tranh năm Tự Đức 22 (1868). Ảnh: Triển lãm tư liệu EFEO tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 2026.
Đến thời Nguyễn, cụ thể là dưới thời Minh Mạng, sự bỏ bê càng lộ ra rõ nét khi binh sĩ không được bắn thật lúc tập luyện. Trong Hải Nam Tạp Trứ, tác giả Thái Đình Lan - một người Đài Loan phiêu dạt đến Việt Nam thời Minh Mạng - kể rằng: "Nước này không có mỏ sắt, thuốc súng ít, thường khi diễn tập, đều không điểm hỏa bắn điểu súng, chỉ dùng tay làm động tác mà thôi".
Một khi người lính không được làm quen với việc bắn đạn thật thì khi ra trận sẽ lúng túng, thậm chí có thể gây ra những tai nạn chết người khi thao tác với thuốc nổ.
Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan, còn nhiều nguyên nhân khách quan, như ông Thái Đình Lan chỉ ra rằng Việt Nam không có mỏ sắt, có lẽ là thiếu những mỏ có trữ lượng lớn và chất lượng tốt, đủ cho một nền công nghiệp quốc phòng lớn mạnh.
Thiếu nguồn nguyên liệu khiến cho kể cả có công nghệ - ví dụ như kỹ thuật luyện kim để làm sắt và đúc đồng đã có từ thời Đông Sơn - chúng ta cũng rất khó chạy đua vũ khí với những đế quốc lớn như Anh hay Pháp.
Hoặc như thời kỳ này nhà Nguyễn đã cố gắng tiếp thu công nghệ "thạch cơ điểu thương" - tức là máy cò đánh lửa dùng đá lửa (flintlock) của Châu Âu, nhưng nguyên liệu quan trọng nhất là đá lửa thì trong nước không có sẵn mà phải nhập khẩu.
Hình đúc nổi Thạch cơ điểu thương (súng điểm hỏa bằng máy đá lửa) trên Cửu đỉnh triều Minh Mạng. Ảnh: NVCC.
Trong Đại Nam thực lục, vua Minh Mạng dụ Nội các rằng: "binh khí, duy có súng điểu thương là cốt yếu mà máy đá lại là thứ tinh giỏi của nó. Ta nghĩ điểm hỏa tất phải có đá lửa, mà dân gian không có". Sự lệ thuộc vào nguồn đá lửa nhập khẩu khiến công nghệ cũ kỹ là điểm hỏa bằng mồi thừng cháy chậm vẫn phổ biến ở Việt Nam hơn, dù mồi thừng có nhiều bất lợi so với máy đá lửa [6].
Khi phương Tây bứt tốc
Những nỗ lực của Việt Nam chủ yếu là ở cấp độ kỹ thuật, công nghệ thủ công, nhưng ở phương Tây, theo thời gian đã xây dựng được nền khoa học tiền hiện đại và đặt nền móng cho công nghiệp quốc phòng.
Tương phản với sự trì trệ công nghệ của nhà Nguyễn là giai đoạn bứt tốc phi thường của công nghệ hỏa khí phương Tây, khi những cải tiến tích lũy trong nhiều thế kỷ về luyện kim, hóa học hiện đại, máy công cụ... cùng hội tụ và tạo ra bước nhảy vọt về sức mạnh quân sự.
Nếu vào thời kỳ Chiến tranh Napoleon (1803–1815), phần lớn bộ binh vẫn sử dụng súng hỏa mai nòng trơn có tầm bắn hiệu quả dưới 100 mét giống như quân đội chúa Trịnh, chúa Nguyễn, thì chỉ vài thập niên sau, súng trường nòng xoắn dùng đạn Minié của Pháp đã nâng tầm bắn chính xác lên hàng trăm mét.
Nguồn hình gốc: Pháo liên thanh 37mm Hotchkiss trên pháo hạm Pluvier của Pháp trong trận thành Nam Định, L. Huard, La guerre du Tonkin (Paris, 1887)
Trong Chiến tranh Pháp–Phổ (1870–1871), Súng trường có kim hỏa, khoá nòng nạp hậu Dreyse của Phổ, rồi Chassepot của Pháp, cho phép tốc độ bắn cao hơn nhiều lần so với súng nạp tiền truyền thống. Cùng lúc đó, pháo binh chuyển từ pháo nòng trơn bằng đồng sang pháo thép nòng xoắn nạp hậu, làm tăng đáng kể tầm bắn, độ chính xác và sức công phá.
Trong trận thành Nam Định năm 1883, quân Pháp đã trút xuống đầu quân Nguyễn cơn mưa đạn pháo liên thanh 37mm Hotchkiss đặt trên cột buồm pháo hạm Pluvier. Đến năm 1884, sự xuất hiện của súng máy Maxim - loại súng tự động hoàn toàn đầu tiên - đã hoàn tất cuộc cách mạng hỏa khí.
Chỉ trong khoảng nửa thế kỷ, hỏa lực chiến trường đã chuyển từ diện mạo vẫn luôn có từ thời kỳ Phục Hưng sang trạng thái của chiến tranh hiện đại.
Xem lại Kỳ 1: Hỏa khí thay đổi chiến tranh ở Đại Việt như thế nào
---
Tài liệu tham khảo:
[1] Views of Seventeenth‑Century Vietnam: Christoforo Borri on Cochinchina & Samuel Baron on Tonkin (Những góc nhìn về Việt Nam thế kỷ XVII: Christoforo Borri về Đàng Trong và Samuel Baron về Đàng Ngoài). Nxb. Southeast Asia Program Publications, Cornell University, 2006
[2] Bình Ninh Thực Lục, 平寧實錄, Việt Nam, Viện nghiên cứu Hán Nôm, bản ký hiệu/ edition VHv.2939.
[3] Đào Duy Từ, 2001, Binh Thư Yếu Lược. Hà Nội: Nhà xuất bản Công An Nhân Dân, tr. 478.
[4] Tâm Nang Thư, Viện nghiên cứu Hán Nôm, bản kí hiệu AB.607
[5] Tana Li, "Nguyễn Cochinchina: Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries", Ithaca, NY: Southeast Asia Program Publications, Southeast Asia Program, Cornell University, 1998, tr. 46.
[6] Nguyễn Ngọc Phương Đông, Kaovjets Nguyens, 2023, Lôi động, tinh phi, NXB Dân Trí, tr. 213.