Ngày 12/6, tại kỳ họp thứ 114 của ILO, với 406 phiếu thuận, 8 phiếu chống và 36 phiếu trắng, Công ước số 193 của ILO (2026) về Việc làm bền vững trong Nền kinh tế nền tảng đã được thông qua.
Đây là cột mốc lớn nhưng vẫn còn một bước đường dài cho tới khi các nguyên tắc bảo vệ người lao động nền tảng được hiện thực hóa.
Đồng thuận quốc tế ở mức cao
Nhìn vào tỷ lệ phiếu bầu, có thể khẳng định phần lớn các quốc gia trên thế giới ý thức được sự thiếu vắng các nguyên tắc bảo vệ nhóm lao động nền tảng có thể tạo ra các vi phạm nghiêm trọng về quyền của người lao động.
Trong một thời gian dài, họ được xem là lao động tự do hoặc người tự kinh doanh. Do đó, họ phải tự gánh chịu những rủi ro đi kèm với công việc, kể cả phải tự chi trả chi phí y tế khi gặp tai nạn trong môi trường lao động, và không thể đàm phán chính thức với nền tảng số để cải thiện điều kiện làm việc.
Tài xế xe ôm công nghệ ở TP HCM, tháng 4/2026. Ảnh: Quỳnh Trần
Trong đó, một số quốc gia có nền kinh tế nền tảng có tốc độ tăng trưởng lớn tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia [1] đều có phiếu thuận từ thành viên đại diện chính phủ, doanh nghiệp và người lao động [2].
Trong số các phiếu chống, phiếu của phái đoàn Mỹ là đáng chú ý hơn cả vì các công ty xây dựng môi trường lao động trên nền tảng xuất phát từ quốc gia này.
Mặc dù việc bỏ phiếu thuận mới chỉ mang tính diễn ngôn, nhưng đây là chỉ dấu cho thấy các quốc gia và cộng đồng quốc tế (gồm cả các tổ chức xã hội dân sự) đã đạt được một sự đồng thuận cao trong định hướng ghi nhận và bảo vệ nhóm lao động đang ngày càng đông đảo này.
Giống như tất cả các công ước của ILO, văn kiện này chỉ ràng buộc những quốc gia thành viên phê chuẩn nó.
Mức độ sẵn sàng phê chuẩn Công ước của mỗi quốc gia phụ thuộc vào việc họ đánh giá các nguyên tắc và nghĩa vụ được quy định trong Công ước có thể được nội luật hóa và thực thi hiệu quả trong hệ thống pháp luật quốc gia hay không.
Báo cáo "Realizing decent work in the platform economy: draft Convention and Recommendation" cho thấy trong quá trình soạn thảo, các quốc gia bày tỏ lo ngại về việc ban hành một Công ước quá chi tiết đối với lĩnh vực kinh tế số, vốn vẫn đang phát triển nhanh và đặt ra nhiều vấn đề pháp lý chưa có tiền lệ. Trọng tâm của các thảo luận là việc xác định bản chất pháp lý của mối quan hệ giữa nền tảng số và người làm việc trên nền tảng [3]. Các quốc gia cho rằng việc mặc nhiên thừa nhận đây là quan hệ lao động có thể kéo theo những thay đổi lớn trong hệ thống pháp luật lao động, an sinh xã hội và quản lý kinh tế số, trong khi kinh nghiệm thực tiễn để xử lý vấn đề này vẫn còn hạn chế.
Công ước đưa ra năm nguyên tắc, nhằm đảm bảo quyền của lao động nền tảng số: (1) tự do hiệp hội và ghi nhận hiệu quả quyền đàm phán tập thể, (2) xóa bỏ mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, (3) xóa bỏ lao động trẻ em, (4) xóa bỏ phân biệt đối xử trong công việc (5) đảm bảo môi trường làm việc an toàn và lành mạnh. Trong các nguyên tắc này có lẽ nguyên tắc số (1), vốn nhắc lại nội dung chính của các Công ước số 87 và 98, sẽ khiến một số quốc gia cân nhắc về khả năng phê chuẩn.
Công ước 193 làm được những gì?
Công ước 193 là văn kiện quốc tế đầu tiên được xây dựng riêng cho nền kinh tế nền tảng, với các quy định được thiết kế để xử lý những vấn đề về quản trị bằng thuật toán, nguyên tắc bảo đảm quyền của người lao động, vấn đề tiền lương, thỏa thuận giữa nền tảng và người lao động.
Các quốc gia và cộng đồng quốc tế đã đạt được một sự đồng thuận cao trong định hướng ghi nhận và bảo vệ nhóm lao động nền tảng đang ngày càng đông đảo này. Trong ảnh: Tài xế xe công nghệ tại trung tâm TP HCM năm 2025. Tác giả: Thanh Tùng
Được xây dựng với tinh thần dựa trên nguyên tắc [4], phạm vi điều chỉnh của Công ước rất rộng, áp dụng đối với tất cả các "nền tảng lao động số" (digital labor platforms) và tất cả người lao động nền tảng số (digital platform workers).
Một nội dung rất ý nghĩa mà Công ước 193 đã hiện thực hóa được đó là đưa ra một định nghĩa toàn cầu về nền tảng lao động số, về người lao động nền tảng số, bên trung gian và tiền công.
Theo đó, "nền tảng lao động số" là một công ty hoặc cá nhân "(i) tổ chức và/hoặc điều phối để công việc được thực hiện bởi các cá nhân, để họ đổi lấy thù lao, nhằm cung cấp một dịch vụ theo yêu cầu của người nhận dịch vụ hoặc người yêu cầu dịch vụ; (ii) bất kể công việc đó được thực hiện trực tuyến hay tại một địa điểm địa lý cụ thể". Nói cách khác, Công ước không chỉ áp dụng đối với các dịch vụ gọi xe hay giao đồ ăn, mà còn bao trùm nhiều loại hình nền tảng hơn thế.
Không tập trung vào việc gọi tên mối quan hệ giữa các bên, Công ước tìm cách cung cấp những nguyên tắc căn bản về bảo vệ quyền lợi của người lao động nền tảng bất kể cách thức phân loại pháp lý. Vì vậy, Công ước không buộc các quốc gia phải xếp họ vào nhóm "người lao động", nhưng yêu cầu các bảo vệ cốt lõi phải được áp dụng cho họ cho dù họ được phân loại như thế nào. Cụ thể, quốc gia thành viên có nghĩa vụ phân loại lao động dựa trên nhiều khía cạnh thực chất thay vì chỉ dựa vào việc có hay không quan hệ việc làm.
Đặc biệt, một trong những vấn đề bức xúc mà các lao động nền tảng từ lâu đã gọi tên, đó là sự không rõ ràng của các thuật toán, nay đã được quy định. Theo đó, các nền tảng phải thông tin cho người lao động và đại diện của họ biết các hệ thống tự động được sử dụng ra sao cho mục đích giám sát và ra quyết định, đồng thời phải cung cấp giải thích bằng văn bản và cho phép xem xét lại với các quyết định ảnh hưởng tới tiền công, việc đình chỉ, vô hiệu hóa tài khoản hoặc chấm dứt quan hệ việc làm. Công ước nhấn mạnh rằng phải có yếu tố con người trong quá trình giải thích nói trên.
Vấn đề mức lương tối thiểu cũng được đề cập. Công ước yêu cầu các quốc gia phải đảm bảo rằng các nền tảng thanh toán đầy đủ và đúng hạn, tuân thủ các chuẩn mực về lương tối thiểu có thể áp dụng, và hoàn trả chi phí liên quan đến công việc. Đây là một nguyên tắc giúp khắc phục việc đẩy các chi phí vận hành cho người lao động, cũng như áp đặt các mức chiết khấu cao tới mức thu nhập của người lao động không đảm bảo.
Đối với phúc lợi xã hội, nhằm khắc phục hiện tượng lề hóa những lao động nền tảng thông qua mối quan hệ "đối tác" của các nền tảng lao động số, các quốc gia thành viên sẽ có nghĩa vụ đảm bảo rằng các lao động nền tảng được tiếp cận chế độ bảo hiểm xã hội tương tự các lao động khác cùng bản chất.
Công ước đã đặt những viên gạch đầu tiên cho cơ chế ghi nhận và bảo vệ quyền của người lao động nền tảng.
Nhưng ngay cả được các quốc gia phê chuẩn, vẫn phải nội luật hóa thì các quy định trong Công ước mới có hiệu lực pháp lý nội địa. Như vậy, vẫn cần theo dõi quá trình các quốc gia luật hóa các cam kết quốc tế hiệu quả tới đâu mới có thể kết luận đã có trái ngọt trong việc bảo đảm quyền của lao động nền tảng hay chưa.
---
Đọc thêm:
EU xây dựng khung pháp lý để coi lao động nền tảng số là 'người lao động'
Ban hành đạo luật riêng, Singapore bảo vệ lao động nền tảng số chưa từng thấy
---
Chú thích:
[1] Báo cáo của ILO "Opportunities and Challenges for Decent Work in the Platform Economy in Asia and the Pacific", 3/2026
[2] Cơ chế bỏ phiếu ở ILO là mỗi quốc gia có 4 phiếu, theo đó, 2 phiếu cho 2 đại diện của chính phủ quốc gia thành viên, 1 phiếu của đại diện người sử dụng lao động và 1 phiếu của đại diện người lao động. Như vậy, đôi khi phiếu của các thành viên phái đoàn có thể khác nhau về quan điểm. Ví dụ như trường hợp của Thái Lan với 1 phiếu chống từ đại diện người sử dụng lao động
[3] Báo cáo của ILO "Realizing decent work in the platform economy: draft Convention and Recommendation", 2026.