Trong khi nắng nóng ngày càng trở thành rủi ro sinh kế rõ rệt thì hệ thống an sinh xã hội hiện nay của Việt Nam vẫn chưa xem đây là một loại rủi ro cần được phòng ngừa như các loại hình rủi ro khác, GS.TS Lê Quang Cảnh, Viện trưởng Viện phát triển bền vững (Đại học Kinh tế Quốc dân - NEU) nhận xét trong buổi công bố báo cáo nghiên cứu mới đây về lao động ngoài trời.
Một người bán hàng rong tranh thủ ngồi nép vào góc râm của bức tường để tránh nắng ở Hà Nội hôm 24/6/2026. Ảnh: Tùng Đinh
Nắng nóng ảnh hưởng rõ rệt tới sinh kế và sức khỏe người lao động
Cụ thể, cứ 10 người lao động ngoài trời được phỏng vấn thì có 3 người nói rằng nắng nóng đã làm họ bị giảm giờ làm việc, trung bình khoảng 2,4 giờ mỗi ngày trong các đợt nắng nóng.
Nghiên cứu do NEU và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam khảo sát 734 người lao động ngoài trời tại Hà Nội và TP.HCM, gồm công nhân xây dựng, người bán hàng rong, thu gom ve chai, tài xế xe ôm và shipper công nghệ.
Có nghĩa là, nếu một công nhân xây dựng hoặc xe ôm thu nhập 9-10 triệu một tháng khi làm việc liên tục 10-12 tiếng mỗi ngày trong những tháng bình thường, thì vào thời điểm nắng nóng gay gắt, sẽ bị giảm ít nhất 20% hiệu suất lao động. Trong báo cáo, gần một nửa số người lao động được phỏng vấn cho biết mình đã bị giảm thu nhập trong các đợt nắng nóng.
Chưa kể, các nghiên cứu cho thấy, làm việc liên tục dưới nắng nóng ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động - từ đau đầu, chóng mặt, kiệt sức do nhiệt đến nguy cơ sốc nhiệt, bệnh tim mạch, hô hấp và các bệnh mãn tính trở nên trầm trọng hơn. Gần 700 người lao động ngoài trời được phỏng vấn nói rằng gặp vấn đề về sức khỏe do nắng nóng gay gắt. Thậm chí nghiên cứu cũng ghi nhận những trường hợp say nắng ngã xuống khi đang làm việc ngoài trời.
Trên đường Cộng Hoà (quận Tân Bình (cũ), TP.HCM) hồi tháng 3/2021, một tài xế xe công nghệ thấy người đang xịt đường nên tấp xe vào xin nước tưới vào pô và máy xe cho mát. Ảnh: Quỳnh Trần.
Thiệt hại âm thầm, rủi ro tự gánh
Tuy vậy, những người dễ bị ảnh hưởng bởi nắng nóng gay gắt nhất lại là những người ít được bảo vệ nhất trước rủi ro sinh kế và sức khỏe do nắng nóng gây ra, và có thể nói là còn nằm trong vùng xám về an sinh.
Thứ nhất, các nhóm lao động chịu ảnh hưởng nhiều nhất của nắng nóng là lao động ngoài trời chủ yếu là lao động tự do như xe ôm công nghệ, người bán hàng rong, công nhân xây dựng... hầu như ít được lưới an sinh bao phủ do đây là các loại hình lao động phi chính thức.
Hơn 41% người lao động ngoài trời được khảo sát cho biết chưa từng nhận được bất kỳ hình thức hỗ trợ nào từ Nhà nước. Trong số những người có nhận hỗ trợ, phần lớn chỉ là hỗ trợ khẩn cấp, thay vì các biện pháp bảo vệ mang tính phòng ngừa hoặc dài hạn.
Khi chưa có lưới an sinh bao phủ, các rủi ro gặp phải dễ dồn gánh nặng và mọi rủi ro lên cá nhân người lao động. Thực tế, khảo sát này cho thấy, chỉ chưa đầy 6% những người lao động ngoài trời được khảo sát cho biết nhận được hỗ trợ an sinh xã hội khắc phục rủi ro do nắng nóng gây ra, nhưng chủ yếu là hỗ trợ từ cộng đồng, ví dụ như các trạm nước uống thiện nguyện.
Tại một công trường xây dựng ở TP Thủ Đức, một thợ sơn đội hai lớp mũ, choàng khăn, đeo khẩu trang... kín mít trước khi vào ca làm. Ảnh: Quỳnh Trần
Theo nhóm nghiên cứu, cơ chế "an sinh ngược" này đang đặt gánh nặng vào vai của cá nhân và cộng đồng, trong khi vai trò của nhà nước và người sử dụng lao động là rất yếu, gần như hoàn toàn vắng bóng. "Mình phải tự bảo vệ mình thôi. Đợi họ thì mình chết nắng à", ông Kiên*, thậm chí một công nhân xây dựng đã bức xúc nói khi được khảo sát.
Gần 80% người lao động nói rằng biện pháp ứng phó chính của họ là tạm dừng làm việc/giải lao tránh nóng. Gần 40-60% cho biết họ phải tự xử lý các vấn đề sức khỏe - từ việc mua các trang bị bảo hộ cá nhân (mũ, nón, bạt che, quạt mini làm mát trong áo...) đến mua các sản phẩm làm mát (nước uống, kem...).
Dù vậy, nắng nóng gây ra các tác động lên sức khỏe hàng chục triệu người lao động, thậm chí là nguy cơ tới tính mạng nếu làm việc cường độ cao ngoài trời, nhưng lại thầm lặng, không gây sốc như bão, lũ. Về mặt kinh tế, nắng nóng gây giảm năng suất diện rộng nhưng không phá hủy tài sản ngay lập tức. Chính vì thế, những thiệt hại âm thầm này ít được nhà quản lý và các đơn vị sử dụng lao động quan tâm đúng mức.
"Chúng ta không có chính sách an sinh xã hội chuyên biệt dành cho lao động ngoài trời hoặc lao động phi chính thức tiếp xúc với nắng nóng gay gắt. Các quy định liên quan đến nắng nóng chỉ tồn tại rải rác trong các văn bản pháp luật về thiên tai, an toàn lao động hoặc vi khí hậu nơi làm việc. Điều này khiến trách nhiệm quản lý bị phân tán, khó triển khai thành các chính sách hỗ trợ cụ thể", GS. TS Lê Quang Cảnh cho biết.
Ông chỉ ra, trong hệ thống chính sách của Việt Nam (Quyết định 18/2021/QĐ-TTg), nắng nóng là một dạng thiên tai có 5 cấp độ rủi ro, liên quan đến mức nhiệt, phạm vi ảnh hưởng và thời gian nắng nóng kéo dài; nhưng thực tế nắng nóng gay gắt đang diễn ra hiện nay thường chỉ xếp ở mức nguy cơ thấp (cấp 2/5) nên không được ưu tiên phân bổ nguồn lực.
GS. TS Lê Quang Cảnh trình bày kết quả nghiên cứu về nắng nóng và lao động tại Đại học Kinh tế Quốc dân hôm 18/6/2026. Ảnh: NVCC
Chủ yếu là vấn đề của nhóm lao động phi chính thức
Nhóm nghiên cứu cũng phỏng vấn cán bộ cấp Bộ, Sở và Phường ở hai thành phố để xem quan điểm chính sách an sinh xã hội và thực thi chính sách ứng phó với nắng nóng.
Một cán bộ Cục tiền lương và BHXH thừa nhận rằng "trong các văn bản luật, trực tiếp thì chưa có nội dung liên quan [đến lao động làm việc trong điều kiện nắng nóng cực đoan] nhưng gián tiếp thì đâu đó cũng có". Vì chính sách xã hội về việc làm lại phụ thuộc vào danh mục công việc "mà điều này lại do Cục việc làm đảm nhiệm", nên chỉ có thể thực thi bảo hiểm xã hội nếu các công việc lao động ngoài trời chịu ảnh hưởng của nắng nóng gay gắt được đưa vào danh mục trên. Cán bộ này cũng khẳng định, quy định chung hiện nay là "người lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại thì có chính sách, phúc lợi cao hơn công việc bình thường". Tuy nhiên, hiện nay các loại hình lao động phơi nhiễm với nắng nóng lâu dài vẫn còn ở vùng xám.
Một cán bộ khác tại Cục quản lý Đê điều và Phòng chống thiên tai vạch ra rõ hơn về mức độ ưu tiên và hành động đối với các vấn đề khí hậu. "Trách nhiệm Nhà nước là chủ đạo, cộng đồng tham gia. Ở mức riêng lẻ, cộng đồng chủ động. Thiên tai, nguy cơ như cháy nhà, chết người...thì mới cần khẩn cấp, còn nắng nóng thì ở cấp cộng đồng chủ động". Nói cách khác, nắng nóng đang được coi là kém ưu tiên hơn đối với quản lý nhà nước và là vấn đề thuộc về cộng đồng.
Một khó khăn nữa là nhiều lao động chịu tác động trực tiếp của nắng nóng thuộc khu vực phi chính thức. Vì vậy, họ thường ít có cơ hội lên tiếng và khó có tiếng nói trong hệ thống chính sách công.
Một cán bộ Sở Nội vụ trao đổi với nhóm nghiên cứu rằng muốn đưa vấn đề lao động nắng nóng vào chính sách "cần có cơ quan chủ quản đề nghị, mà lao động phi chính thức thì làm gì có ai là cơ quan chủ quản. Giả sử có ý kiến đưa lên nhưng các Sở/Ban/Ngành không thấy cần thiết thì lại gạt ra".
Một cán bộ Sở Nội vụ khác phân bua rằng nếu ta thực sự mặn mà để vấn đề [an sinh xã hội trong nắng nóng] trở thành tầm vĩ mô thì mới có cơ may đưa được vào chính sách. Chẳng hạn, sở Y tế phải vào cuộc, chứng minh rằng mức độ thế nào thì là bệnh [do nhiệt] thì người lao động mới được hưởng chính sách liên quan đến y tế. Tương tự, nếu các sở/ngành khác muốn giành được chính sách cho người lao động thì phải chứng minh tích cực hơn.
Mô hình an sinh thích ứng với khí hậu
Trước mắt, nhóm nghiên cứu khuyến nghị xây dựng mạng lưới "điểm tránh nóng", hạ tầng "nước uống-nghỉ ngơi-bóng râm" công cộng hay hỗ trợ thu nhập bị mất do thời tiết cực đoan. Nhưng về lâu dài cần hướng tới những thay đổi dài hạn trong chính sách lao động và an sinh xã hội.
"Hệ thống an sinh xã hội hiện nay vẫn mang nặng tư duy ‘chữa cháy’ – chỉ can thiệp khi rủi ro đã xảy ra. Trong khi đó, điều người lao động cần là một hệ thống an sinh thích ứng, có khả năng dự báo, phòng ngừa và chuyển hóa rủi ro trước khi chúng trở thành tổn thất", GS.TS Lê Quang Cảnh nhận xét.
Để xây dựng một hệ thống thích ứng hiệu quả với nắng nóng, trước hết cần đưa các rủi ro do nhiệt độ cao vào các quy định pháp luật như Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội và các tiêu chuẩn về an toàn lao động. Đồng thời, cần bổ sung những nghề nghiệp thường xuyên phải làm việc trong điều kiện nắng nóng vào danh mục công việc nặng nhọc, độc hại để người lao động được hưởng các chế độ bảo vệ phù hợp.
Về lâu dài, các cơ quan quản lý cần xây dựng kế hoạch thích ứng quốc gia với nắng nóng, nâng cao năng lực dự báo rủi ro và xây dựng các kịch bản ứng phó, đồng thời phát triển cơ sở dữ liệu về lao động ngoài trời và các nghiên cứu lượng hóa thiệt hại kinh tế - xã hội do nắng nóng gây ra. Có như vậy, các quyết sách mới được xây dựng trên cơ sở bằng chứng, giúp phân bổ nguồn lực hiệu quả, bảo vệ nhóm lao động dễ bị tổn thương và quản lý tốt các rủi ro khí hậu đang ngày càng gia tăng.
Theo nhóm nghiên cứu, những đề xuất này đều nhấn mạnh đến việc chuyển từ cách tiếp cận ứng phó "ngắn hạn", "tự sinh tồn" của người lao động hiện nay sang chiến lược thích ứng "thể chế hóa", "có hệ thống" của cả xã hội.
"Nắng nóng đang áp chi phí lên cá nhân người lao động ngoài trời. Đó là một bất bình đẳng lớn. Nếu không thay đổi cách thích ứng, về lâu dài nó sẽ trở thành gánh nặng cho toàn bộ hệ thống an sinh xã hội, khi hàng triệu, hàng triệu người lao động phải làm việc trong môi trường ngày càng nóng hơn", GS. TS Lê Quang Cảnh nhận xét. "Đó là bài toán lớn Việt Nam cần sớm giải quyết, nếu không muốn phải trả giá đắt hơn nhiều cho những tổn thất về sức khỏe, năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế trong thập kỷ tới."
---
Chú thích:
* Nhân vật đã được đổi tên.