Trong lĩnh vực năng lượng, các nhà máy Trung Quốc đã sản xuất khoảng 1.200 gigawatt thiết bị điện mặt trời mỗi năm - gần gấp đôi tổng công suất được lắp đặt trên toàn thế giới trong năm ngoái. Ở nhiều nơi tại Trung Quốc, các tấm pin mặt trời rẻ và dư thừa đến mức người ta dùng nó để làm hàng rào quanh trang trại.
Vấn đề dư thừa còn trầm trọng hơn ở ngành xe điện. Trung Quốc đã huy động công suất đủ để sản xuất khoảng 25 triệu xe điện mỗi năm, trong khi nhu cầu nội địa chỉ khoảng 12 triệu xe. Các doanh nghiệp Trung Quốc buộc phải xuất khẩu mạnh xe điện ra thế giới. Tuy nhiên, nhu cầu xe điện toàn cầu dự kiến chỉ tăng lên 23 triệu xe trong năm nay. Tính chung cả xe điện lẫn xe động cơ đốt trong, Trung Quốc hiện sở hữu năng lực sản xuất khoảng 55 triệu xe - tương đương 60% tổng thị trường toàn cầu. Với đà tăng trưởng cao, thị trường thế giới khó mà hấp thụ hết lượng ô tô do Trung Quốc sản xuất. Chưa kể, các nước khác cũng muốn tự sản xuất ô tô của riêng mình.
Trong hai thập kỷ qua, Trung Quốc đã tạo ra mức thặng dư thương mại (chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu so với giá trị nhập khẩu) lớn nhất trong lịch sử. Năm 2025, thặng dư thương mại của Trung Quốc đạt gần 1,2 nghìn tỷ USD, nhanh gấp ba lần tốc độ tăng trưởng của thương mại toàn cầu.
Nhìn chung, nhu cầu toàn cầu không tăng đủ nhanh để hấp thụ hàng xuất khẩu của Trung Quốc, cả trong các lĩnh vực trọng điểm lẫn tổng thể.
Một cỗ máy không thể dừng lại hay chậm lại
Báo cáo năm 2024 của Liên Hợp Quốc cho thấy Trung Quốc hiện chiếm khoảng 30% sản lượng công nghiệp toàn cầu, và dự kiến sẽ đạt 45% vào năm 2030. Trừ trường hợp kinh tế Mỹ thời kỳ ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, lịch sử chưa từng ghi nhận tiền lệ nào về việc năng lực sản xuất công nghiệp của thế giới tập quá trung vào một quốc gia như vậy.
Công nhân bên trong một nhà máy thép ở Trùng Khánh (Trung Quốc). Ảnh: Reuters
Tình trạng sản xuất dư thừa này phản ánh một lựa chọn chính sách có chủ đích và được triển khai đồng bộ. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) ước tính 60% mức gia tăng thị phần sản xuất của Trung Quốc trên thị trường toàn cầu là nhờ các chính sách hỗ trợ của chính phủ.
Có lẽ hình thức hỗ trợ quan trọng nhất, dù gián tiếp, là việc doanh nghiệp sản xuất được tiếp cận hệ thống tài chính do nhà nước điều phối. Hệ thống này rót một lượng tín dụng khổng lồ vào các ngành được ưu tiên, cho phép doanh nghiệp mở rộng sản xuất mà không phải chịu áp lực về lợi nhuận và hiệu quả sinh lời như các đối thủ quốc tế.
Hệ quả là tạo ra một cuộc 'đua xuống đáy', khi doanh nghiệp Trung Quốc hạ giá bán xuống dưới giá thành, chấp nhận biên lợi nhuận siêu mỏng hoặc thậm chí âm, đồng thời tiếp tục mở rộng sản xuất để giành thêm thị phần.
Gần 30% doanh nghiệp công nghiệp Trung Quốc hiện hoạt động trong tình trạng báo lỗ, so với mức 20% ở thời điểm trước đại dịch COVID-19. Ở các lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng đầu tư nhanh nhất - chủ yếu là những ngành nằm trong danh mục ưu tiên của chiến lược Made in China 2025 do Chủ tịch Tập Cận Bình khởi xướng, tỷ lệ doanh nghiệp báo lỗ lên tới 34%.
Thay vì để các doanh nghiệp thua lỗ tự giải thể, chính quyền địa phương lại ghé vai 'gánh đỡ' nhằm duy trì chỉ tiêu việc làm và nguồn thu thuế, trong khi các ngân hàng nhà nước tiếp tục gia hạn nợ cho những bên đi vay đã mất khả năng thanh toán. Cơ chế này, cộng với việc đồng nhân dân tệ liên tục bị định giá thấp, khiến hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn, giúp doanh nghiệp Trung Quốc bán hàng với mức giá thấp hơn tới 30% so với các công ty cùng ngành ở những quốc gia khác.
Cuộc chiến giá cả và tình trạng dư thừa năng lực sản xuất gây ảnh hưởng tiêu cực cả ở nước ngoài và trong nước. Người Trung Quốc gọi hiện tượng này là 'nội quyển' (neijuan) hay 'cạnh tranh nội bộ khốc liệt', đẩy doanh nghiệp tới giới hạn chịu đựng trong khi lợi nhuận thu về ngày càng giảm.
Doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn, sản xuất nhiều hơn để xuất khẩu nhiều hơn, dù biên lợi nhuận thấp hoặc âm. Vòng xoáy này được duy trì một phần nhờ sự hỗ trợ của chính quyền, vốn cũng cần các nhà máy sáng đèn để bảo đảm sức khỏe tài chính của địa phương. Kết quả là cỗ máy công nghiệp không thể dừng lại hay chậm lại.
Nhưng nhu cầu của thị trường thì có hạn, cỗ máy này chẳng thể vận hành theo cách đó mãi.
Cánh cửa hẹp dần
Những năm 2000-2010, các nước giàu chấp nhận nhường phân khúc sản xuất có biên lợi nhuận thấp cho các doanh nghiệp Trung Quốc. Tuy nhiên, việc Trung Quốc gần đây đẩy mạnh sang lĩnh vực sản xuất có giá trị cao lại đe dọa trực tiếp đến chiến lược kinh tế của họ.
Trung Quốc giờ đã trở thành nước xuất khẩu ô tô lớn nhất thế giới. Trong ảnh: Những chiếc xe Chery xuất khẩu tại cảng biển ở tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, ngày 12/1/2026. Nguồn: AFP
Hãy xem trường hợp của Đức, quốc gia từ lâu đã ủng hộ và cũng hưởng lợi từ việc giao thương với Trung Quốc. Theo tổ chức nghiên cứu Rhodium Group, năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Đức sang Trung Quốc rơi xuống mức thấp nhất trong một thập kỷ - giảm 9,3% so với năm 2024 và giảm tới 23% so với mức đỉnh vào năm 2022. Ở chiều ngược lại, hàng hóa từ Trung Quốc sang Đức tăng mạnh. Trong quý II năm 2025, giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc cao hơn ít nhất 10% so với cùng kỳ năm trước trên hơn 2.000 danh mục sản phẩm, gồm cả những mặt hàng mà Đức có danh tiếng lâu đời như hóa chất và đặc biệt là ô tô. Từ năm 2022 đến năm 2025, xuất khẩu xe hơi của Đức sang Trung Quốc giảm 66%, trong khi tổng lượng xe xuất khẩu của Trung Quốc - giờ đã trở thành nước xuất khẩu ô tô lớn nhất thế giới - sang Đức tăng hơn hai lần.
Trước tình thế này, các hiệp hội doanh nghiệp Đức và châu Âu kêu gọi áp dụng các yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa nghiêm ngặt chưa từng có. Thậm chí Thủ tướng Đức Friedrich Merz còn phải cân nhắc điều trước đây được coi là không thể tưởng tượng nổi: ủng hộ Liên minh Châu Âu EU xây dựng cơ chế tương tự Điều 301 của Mỹ, một công cụ thuế nhằm xử lý vấn đề mất cân bằng thương mại giữa EU và Trung Quốc và tạo sức ép để Trung Quốc điều chỉnh tăng giá đồng nhân dân tệ.
Tháng 10/2024, sau khi điều tra các khoản trợ cấp của Trung Quốc dành cho doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng xe điện, Ủy ban Châu Âu đã áp thuế đối kháng đến 35,3% lên xe điện sản xuất tại Trung Quốc. Tháng Ba vừa qua, ủy ban này lại đề xuất Đạo luật Thúc đẩy Công nghiệp (Industrial Accelerator Act), quy định tỷ lệ nội địa hóa 'sản xuất tại EU' và bắt buộc chuyển giao công nghệ đối với các thương vụ liên quan đến những lĩnh vực then chốt.
Ủy ban châu Âu cũng đang xem xét mở rộng các quy định về chuỗi cung ứng cho toàn khối, trong đó có dự luật yêu cầu các doanh nghiệp châu Âu đa dạng hóa nguồn cung, bảo đảm có ít nhất ba nguồn nhập khẩu đối với các lĩnh vực thiết yếu.
Tình hình trở nên nóng hơn khi năm ngoái, Trung Quốc quyết định 'vũ khí hóa' thế mạnh độc quyền của mình về chế biến khoáng sản hiếm và các sản phẩm liên quan, như nam châm, bằng các lệnh hạn chế xuất khẩu, từ đó làm gián đoạn nghiêm trọng nguồn cung đối với nhiều lĩnh vực trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đáp lại, Diễn đàn Hợp tác Địa chiến lược Tài nguyên (FORGE) đã ra đời với sự ủng hộ của hàng chục quốc gia, nhằm nhanh chóng mở rộng đầu tư của cả khu vực công và tư nhân vào các chuỗi cung ứng những khoáng sản quan trọng 'không có yếu tố Trung Quốc'.
Diễn đàn này là một dấu hiệu cho thấy, nhiều quốc gia sẵn sàng liên minh với nhau để đóng cửa thị trường đối với hàng hóa Trung Quốc.
Ở một số lĩnh vực nhạy cảm như viễn thông, xe điện và thiết bị bay không người lái, những liên minh như vậy cũng đã hình thành, phối hợp đưa ra các lệnh cấm hoặc hạn chế đối với việc sử dụng thiết bị của các công ty viễn thông Trung Quốc như Huawei và ZTE.
Tiền đề cho một cú sốc kinh tế toàn cầu
Trước mắt, việc thiếu hụt thị trường tiêu thụ có thể tạo tiền đề cho một cú sốc lan truyền khắp nền kinh tế Trung Quốc. Hàng loạt doanh nghiệp công nghệ cao đang hoạt động với biên lợi nhuận mỏng có thể phá sản, còn các ngân hàng nhà nước có lẽ sẽ buộc phải ghi nhận các khoản lỗ từ những ‘doanh nghiệp xác sống’ mà họ gánh vác suốt nhiều năm nay.
Trung Quốc vẫn chủ trương tối đa hóa sản lượng công nghiệp ở cả các ngành chiến lược lẫn các ngành giá trị thấp. Ảnh minh họa: BI
Chính quyền địa phương, vốn phụ thuộc vào khoản thu từ bán/cho thuê đất và hoạt động công nghiệp, sẽ bị thâm hụt ngân sách nghiêm trọng. Còn người lao động sẽ phải hứng chịu làn sóng sa thải hàng loạt, kéo theo các hệ lụy xã hội.
Theo nhận định của Michael B. G. Froman tại tổ chức tư vấn đối ngoại CFR của Mỹ, Trung Quốc hoàn toàn có thể phải đối mặt với một phiên bản 'thập kỷ mất mát' của Nhật Bản, nhưng còn tệ hơn.
Những hệ lụy kinh tế của một cú sốc như vậy sẽ lan rộng trên toàn cầu. Việc Trung Quốc giảm tiêu thụ nguyên liệu thô và hàng hóa trung gian sẽ giáng đòn nặng vào các nước xuất khẩu các mặt hàng này. Hiện xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm 25% - 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của Úc, Brazil, Chile. Với các nước như Angola, Congo, Mông Cổ, con số đó còn lên tới 45%-90%. Nhiều quốc gia khác cũng phụ thuộc vào nhu cầu của Trung Quốc ở các mức độ khác nhau.
Tình hình thêm bi quan khi vốn đầu tư của Trung Quốc có thể co lại. Mặc dù hoạt động cho vay toàn cầu của Bắc Kinh thông qua Sáng kiến Vành đai và Con đường đã giảm so với mức đỉnh năm 2016, Trung Quốc vẫn là chủ nợ song phương lớn nhất của nhiều nước đang phát triển. Nếu Trung Quốc buộc phải giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế trong nước, một làn sóng tái cấu trúc nợ và vỡ nợ mới có thể lan rộng ở Pakistan, Ecuador, Zambia và nhiều nước khác.
Trung Quốc đã sẵn sàng thay đổi?
Trung Quốc không phải không nhận ra vấn đề của mình. Bộ Chính trị Trung Quốc đã phát động chiến dịch chống 'nội quyển' vào năm 2025, và Kế hoạch 5 năm lần thứ 15 (giai đoạn 2026–2030) của quốc gia này hướng tới việc kích cầu tiêu dùng, thay vì chỉ nhắm vào tăng cường sản xuất. Trung Quốc cũng có những bước đi khiêm tốn nhằm củng cố mạng lưới an sinh xã hội, giúp người dân giảm bớt tâm lý tích góp phòng thân và sẵn sàng chi tiêu mạnh tay hơn.
Tuy nhiên, theo các nhà phân tích Mỹ, Trung Quốc vẫn chưa sẵn sàng thực hiện một thay đổi cốt lõi nhất: tái định hướng triệt để chiến lược phát triển theo hướng bền vững hơn, mà theo họ chính là tăng trưởng dựa trên tiêu dùng.
Nhìn chung, Trung Quốc vẫn muốn tối đa hóa sản lượng công nghiệp ở cả các ngành chiến lược lẫn các ngành giá trị thấp. Kết quả tạo nên cái mà nhà kinh tế học Yasheng Huang gọi là nền kinh tế 'lợi thế tuyệt đối': một quốc gia cùng lúc cạnh tranh với các nước phát triển ở các mảng công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo, xe điện, điện tử; đồng thời cạnh tranh trực tiếp với các nước nghèo nhất châu Phi ở các mảng thấp như dệt may, thời trang và đồ gia dụng giá rẻ.
Điều này đi ngược lại mọi tiền lệ lịch sử, chưa kể đến logic kinh tế cơ bản về 'lợi thế so sánh' mà hầu hết các quốc gia khác tuân theo. Theo kinh tế học cổ điển, 'lợi thế so sánh' là việc một quốc gia, doanh nghiệp hoặc cá nhân nên tập trung sản xuất những loại hàng hóa mà họ có chi phí tương đối thấp hơn so với các bên khác, và nhập khẩu những hàng hóa mà chi phí sản xuất tương đối của mình cao hơn, không hiệu quả bằng các nước khác. Nhờ đó, các bên đều được lợi từ việc chuyên môn hóa và trao đổi thương mại. Ngay cả các nước từng theo đuổi chiến lược phát triển theo chủ nghĩa trọng thương như Hàn Quốc cũng đã từ bỏ các ngành sản xuất có giá trị gia tăng thấp khi chi phí nhân công trong nước tăng lên.
Sở dĩ chính quyền Trung Quốc ngần ngại chuyển hướng từ sản xuất sang tiêu dùng bởi mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu vừa là một chiến lược kinh tế vĩ mô, vừa là một mục tiêu chính trị. Hệ thống kép này phát huy đúng các lợi thế của Trung Quốc về quy mô sản xuất, năng lượng, hạ tầng, lao động và năng lực kỹ thuật. Giới lãnh đạo Trung Quốc được yêu cầu đẩy nhanh xây dựng nền kinh tế số... nhưng không được phép bỏ rơi các hoạt động kinh tế trực tiếp tạo ra hàng hóa và dịch vụ.
Nhà kinh tế học Zongyuan Zoe Liu nhận định rằng chính phủ Trung Quốc vẫn coi việc thúc đẩy tiêu dùng cá nhân có nguy cơ khiến các nguồn lực bị chuyển khỏi lĩnh vực mà họ coi là cốt lõi, tức nền tảng công nghiệp của nước này.
Trung Quốc từng đối mặt với sự sụt giảm mạnh về nhu cầu nhập khẩu từ bên ngoài. Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 và giai đoạn phục hồi ngay sau đó, các nhà kinh tế Mỹ như Michael Pettis và Nicholas Lardy thúc giục Trung Quốc đẩy nhanh các nỗ lực mà nước này đã cam kết từ lâu nhằm tăng tiêu dùng hộ gia đình. Nhưng Trung Quốc không làm vậy mà tung ra gói kích thích kinh tế trị giá khoảng 586 tỷ USD - tương đương khoảng 12% GDP năm 2008 - và gần như toàn bộ số tiền được rót vào cơ sở hạ tầng và xây dựng.
Biện pháp này phát huy hiệu quả chủ yếu vì khi đó Trung Quốc đang ở thời kỳ 'dân số vàng': tầng lớp trung lưu tăng nhanh, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ và lực lượng lao động dồi dào. Tuy nhiên, thời thế đã thay đổi: dòng người từ nông thôn ra thành phố chậm lại; dân số trong độ tuổi lao động đạt đỉnh vào năm 2015; và tổng dân số cả nước bắt đầu giảm từ năm 2022.
Khi bong bóng bất động sản bắt đầu vỡ vào năm 2021, Trung Quốc tiến hành tái cân bằng nền kinh tế bằng cách chuyển động lực tăng trưởng sang các ngành công nghiệp có giá trị cao như xe điện, pin, tấm pin mặt trời và chất bán dẫn. Nhưng khi những làn sóng tăng trưởng mới nhất này cũng chững lại hoặc suy giảm, Trung Quốc có thể sẽ không còn nhiều dư địa để xoay xở.
Phong Du tổng hợp
(Theo Foreign Affair, The Wall Street Journal)
Xem thêm:
Làn sóng công nghệ có đủ để cứu vãn những bất ổn kinh tế Trung Quốc?
Ngành sản xuất tấm pin mặt trời Trung Quốc trong cơn khủng hoảng
Giá thịt heo bộc lộ tín hiệu đáng lo cho kinh tế Trung Quốc