Tranh vẽ cảnh trường thi xưa (Le Petit Journal, 28/7/1895).
Cùng với Lý học Chu Hy đã tìm hiểu ở kỳ trước, Tâm học Vương Dương Minh là một đại diện quan trọng khác của Nho giáo. Tuy không phổ biến ở lục địa Đông Á, phái của Vương Dương Minh lại cực thịnh ở Nhật Bản thời Edo (thế kỷ 16-19), và được cho là nền tảng văn hóa và động lực chính cho Nhật Bản phát triển duy tân thời Minh Trị Thiên Hoàng.
Nhiều người còn tự hỏi tại sao "các triết gia, sĩ phu, kẻ sĩ Trung Hoa và Việt Nam lại không biết kế thừa triết lý của Vương Dương Minh và không biết áp dụng thuyết này vào việc xây dựng đất nước hùng mạnh và vinh quang như dân tộc Nhật Bản đã làm ngay từ thời Minh Trị Thiên Hoàng?" [1].
Trong kỳ này, chúng ta sẽ xem xét tư tưởng Vương Dương Minh đối với khoa học, kỹ thuật. Liệu cốt lõi của tư tưởng này có thực sự giúp cho Nhật Bản đi lên như chúng ta đang nghĩ? Và cùng đi tìm nguyên nhân sâu xa cho sự tụt hậu của tri thức, công nghệ Việt Nam thế kỷ 18-19.
Tâm học Dương Vương Minh
Lục Cửu Uyên (1139–1193) là một nhà Nho có ảnh hưởng với lập trường đối lập với phái Lý học của Chu Hy. Ông cho rằng Lý hoàn toàn nằm trong Tâm con người, như ông viết trong Tượng Sơn toàn tập: "vũ trụ chính là tâm ta, tâm ta tức là vũ trụ" [2].
Vương Dương Minh (1472-1529) là người kế thừa và phát triển Tâm học nổi bật nhất. Có một giai thoại nổi tiếng về việc Vương Dương Minh khước từ phương pháp tìm tòi Lý (理 - nghĩa lý, đạo lý, trật tự...) từ những vật ngoài Tâm (心 - tâm trí, ý thức, nội tâm, lương tri), là chuyện "Dương Minh cách trúc", được môn đệ ông là Tiền Đức Hồng chép lại trong Vương Văn Thành Công Niên Phả.
Chuyện viết, "năm ấy thầy (Vương Dương Minh) 21 tuổi, một ngày ngẫm nghĩ việc các nhà Nho tiền bối (ý chỉ phái Chu Hy) nói vạn vật từ cái cây ngọn cỏ đều chứa đựng Lý. Trong sân nhiều tre trúc, thầy bèn nghiền ngẫm chúng, rốt cục không hiểu được cái Lý trong chúng, lại còn ngã ốm. Thầy tự an ủi rằng trở thành thánh hiền là số phận, bèn theo thế nhân tìm đến lối học từ chương".
Trong Truyền tập lục - quyển hạ, Vương Dương Minh phản bác quan điểm của Chu Hy bằng phát biểu: "thế mới biết rằng các sự vật trong thiên hạ vốn không có gì có thể tìm tòi được. Công phu cách vật, chỉ thực hiện trên tâm mình mà thôi" [3]
Tranh vẽ giai thoại "Vương Dương Minh cách trúc đồ". Nguồn: 3233.cn
Nói cách khác, phái Chu Hy chủ trương "cách vật trí tri", nghĩa là muốn đạt tri thức, phải nghiên cứu từng sự vật bên ngoài để nắm bắt cái Lý nội tại trong chúng. Phương pháp này mang tính nhị nguyên, tách biệt chủ thể nhận thức và đối tượng được nhận thức.
Còn Dương Vương Minh nhấn mạnh nội tâm và chủ thể - coi tâm, đạo và trời là một, nếu hiểu rõ "tâm", thì cũng hiểu được "lý" của đạo và trời, không cần quan sát từ bên ngoài. Ông không tìm "lý" trong thế giới khách quan. Ông coi chủ thể nhận thức và đối tượng được nhận thức là một. Vì vậy, tâm học có màu sắc thực hành đạo đức rất mạnh, sửa mình, giữ tâm, rồi mới đến học và làm.
Trước quan điểm của Dương Vương Minh, Joseph Needham, người biên soạn cuốn sách Khoa học và văn minh Trung Hoa - Tập 2: Lịch sử tư tưởng khoa học, viết: "Đáng tiếc thay, những tư duy này, dù cao siêu đến đâu, lại là thứ cực kỳ bất lợi cho sự phát triển của khoa học tự nhiên" [4].
Như đã đề cập ở đầu bài, nhiều quan điểm tại Việt Nam cho rằng học thuyết Vương Dương Minh chính là nền tảng và động lực cho Duy Tân ở Nhật Bản, và trách móc rằng Trung Quốc cùng Việt Nam đã không biết kế thừa ông để xây dựng đất nước hùng cường như Nhật Bản.
Nhưng với những tông chỉ bất lợi cho khoa học tự nhiên, khó có thể khẳng định rằng phái Vương Dương Minh chắc chắn sẽ thúc đẩy người Việt mở mang về tri thức như ở Nhật Bản.
Vậy muốn hiểu vì sao Nhật Bản duy tân thành công còn Việt Nam lại không thì chúng ta ngày nay cần mổ xẻ những nguyên nhân khác chứ không thể quy cho việc có tiếp thu tư tưởng của Vương Dương Minh hay không.
Rốt cuộc, Nho giáo có kìm hãm khoa học, kỹ thuật người Việt?
Hai dòng Nho lớn - phái Dương Vương Minh (lưu hành ở Nhật Bản) không có lợi cho phát triển tư tưởng khoa học, phái Chu Hy (lưu hành ở Trung Quốc và Việt Nam) mặc dù rất cổ vũ tư tưởng tìm tòi tự nhiên, gần với khoa học, nhưng lại không đạt được hiệu quả mong muốn như các nước phương Tây.
Trên thực tế, Nho học ở Việt Nam còn bị buộc tội kìm hãm sự phát triển của khoa học-kỹ thuật.
Học giả Việt Nam Trần Trọng Kim (1883-1953), viết: "Thời bấy giờ Nho học rất thịnh, nhưng chỉ thịnh về đường từ chương, học giả đều đua nhau rong ruổi ở chỗ hư văn, chải chuốt lời nói cho đẹp đẽ để cầu lấy danh lợi, chứ không có mấy người thực tiễn những việc đạo đức, cho nên mới thành ra văn thịnh thực suy" [5].
Hóa ra là, có khoảng cách rất xa giữa tư tưởng và hiện thực ở học đường. Các bậc thầy muốn đem tư tưởng của mình để tạo ra thánh nhân, nhưng nhiều người đi học lại chỉ dùng tư tưởng ấy làm công cụ để tìm danh vọng.
Đến đây có thể tạm kết rằng, kinh điển và tông chỉ của phái Nho học chính thống tại Việt Nam suốt nhiều thế kỷ (Tống nho và Lý học Chu Hy) không có dòng nào ngăn trở người học khám phá tri thức về tự nhiên, mà thậm chí còn khuyến khích điều đó. Quan trọng là cách mà thế nhân thực thi nó ra sao.
Để minh họa, hệ thống thi cử thời xưa tại Việt Nam từ thời Lý đến thời Nguyễn không chỉ có khảo hạch từ chương, thi phú, kinh điển... mà có rất nhiều hệ thống thi khác cho võ học, y dược, luật pháp, toán, thợ thuyền... Đó là hệ thống được thiết kế để tuyển lựa nhân tài trong đủ mọi lĩnh vực ra giúp nước.
Từ hệ thống thi cử xưa, nhiều nhân tài có công lao trong sáng tạo, đổi mới đã xuất hiện và cống hiến cho triều đình: thời Trần có thái học sinh Hoàng Hối Khanh (bảo quản lương thực), thời Lê có trạng nguyên Lương Thế Vinh (toán học), thời Nguyễn có tú tài Nguyễn Hữu Nghiêm (tên lửa)..
Tuy nhiên về lâu về dài, thế nhân lại chỉ thượng tôn từ chương để "xuất thân", để đổi đời. Ngay cả đối với một thời đại được dựng nên bằng võ công, và mang tính chất quân phiệt cao như thời Lê-Trịnh, mà cũng dần dần biến tướng thành "trọng văn khinh võ".
Hoàng đế Lý Nhân Tông (1066 - 1128) cho kiến tạo đài đèn Quảng Chiếu có máy móc xoay tròn, là một trong những thiết kế kỹ thuật nổi bật thời bấy giờ. Nguồn tranh: Kaovjets Nguyens, 2026, "Kì công diệu nghệ", NXB Kim Đồng.
Sơn Cư Tạp Thuật minh họa cho hiện tượng này bằng câu chuyện ông Trịnh Cảnh Thụy. Ông là người cao to, sức lực hơn người, năm 34 tuổi nhờ lập võ công mà thăng chức Chỉ Huy Sứ. Ngày triều hội, có quan văn ngồi ban dưới ông mà dám nói trộm: "Tay võ biền một chữ Đinh không biết mà lại ngồi trên bọn chúng ta".
Trịnh Cảnh Thụy nghe được, ngay hôm ấy dâng sớ xin từ chức, đến cửa thượng thư Phùng Khắc Khoan xin học. Năm 47 tuổi, ông trúng đệ nhị giáp khoa Nhâm Thìn triều Quang Hưng. Câu chuyện cho thấy vị thế lấn át của những người xuất thân văn học thời ấy ra sao.
Tù nhân của địa lý?
Cần nhấn mạnh rằng, không phải thời đại nào nước ta cũng là "vùng trũng" về công nghệ. Trong một ngàn năm tự chủ, có những giai đoạn, nước ta đã tiếp thu rất nhanh công nghệ mới của thế giới như in ấn, la bàn, hỏa súng (thế kỷ 14), súng hỏa mai, đại bác nạp hậu (thế kỷ 16), tàu hơi nước (thế kỷ 19)...
Thậm chí chúng ta có những công nghệ và phát minh bản địa: triều Hồ (thế kỷ 15) nước ta đã sáng chế ra cốc mồi có nắp đậy cho súng, một bộ phận quan trọng mà súng khắp thế giới không thể thiếu trong 450 năm sau đó. Thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 16-18) chúng ta phát minh ra thuyền đáy đan nan tre có tải trọng tới 50 tấn và đi được tới Đài Loạn. Hay như khi đối mặt với tàu thuyền thiện chiến của nước Anh trong chiến tranh Nha phiến (thế kỷ 19), đại thần Lâm Tắc Từ và Uông Trọng Dương của nhà Thanh từng khuyến nghị tiếp thu 4 loại thuyền chiến của nước "An Nam". Để có những thành tựu đó, nhiều học giả, trí thức, đại thần thuộc giới tinh hoa tham gia sâu vào cải tiến, phát minh, truyền bá [6]
Nhưng theo quy luật thịnh suy, có lúc hưng khởi thì cũng có khi suy thoái. Giai đoạn Việt Nam thực sự tụt hậu so với phương Tây ở thế kỷ 18-19, chúng tôi cho rằng nguyên do là tổng hòa của rất nhiều yếu tố như chính sách, tài chính, bối cảnh địa chính trị... chứ không thể đổ lỗi cho riêng một tư tưởng, học thuyết Nho giáo.
Chẳng hạn, về khía cạnh kỹ thuật, tuy thời Gia Long đã tiếp thu kỹ thuật đóng thuyền kiểu phương Tây, với những pháo hạm mang được hàng chục đại bác, nhưng dưới thời Minh Mạng, nguồn gỗ phù hợp để đóng những thuyền đi biển lớn trở nên rất khan hiếm. Theo Đại Nam Thực Lục, năm 1838, vua Minh Mạng không chuẩn cấp cho các thợ đóng thuyền loại ván gỗ dài liền khúc để làm "long tích cốt" (sống thuyền) nữa, bởi "ván gỗ dài đến bốn, năm trượng (20 m) trở lên là vật khó kiếm" [7]
Một cặp mẹ con cá voi bơi bên cạnh một chiếc Hồng Thuyền, loại thuyền nhẹ của quân Thị Hậu thời Trịnh-Nguyễn. Mô hình 1:50 dựa trên các số liệu quy định dài, rộng các loại thuyền trong Lê Triều Hội Điển để cố gắng sinh động hóa Hồng Thuyền dựa trên tỷ lệ thật, nhằm tái hiện lại phần nào tầm vóc của một trong những loại thuyền chiến cực kỳ "bản sắc" Việt Nam. Nguồn ảnh: Dự án "Quang Tử Trang Kim", 2024.
Về khoa học, nguyên lý cơ bản của tiến trình khoa học là: khi dữ liệu quan sát và năng lực nhận thức tích lũy đến ngưỡng đủ, các lý thuyết và mô hình cũ sẽ liên tục bị bác bỏ và thay thế bằng các lý thuyết, mô hình mới phù hợp hơn với dữ liệu. Đây chính là cơ chế cách mạng khoa học mà Thomas Kuhn gọi là chuyển dịch mô hình tri thức.
Người Việt mới chỉ thực sự Nam tiến vào thế kỷ 17 và mở rộng giao thương đến Nhật Bản, Đông Nam Á. Phạm vi quan sát trong giới hạn đó chưa tích lũy đủ dữ liệu bất thường để thách thức và bác bỏ các vũ trụ quan Á Đông truyền thống đã được định hình.
Trái lại, người châu Âu đã hoàn thành các chuyến hải hành vòng quanh thế giới, quan sát bầu trời ở cả hai bán cầu và tiếp xúc với toàn bộ các lục địa. Cuộc cách mạng khoa học phương Tây thế kỷ 16-17 thực chất được tiếp nhiên liệu từ chính những khám phá hải ngoại đó: dữ liệu thiên văn từ các vĩ độ mới, nhu cầu định vị hàng hải chính xác, và sự va chạm với các hệ tri thức bản địa đa dạng đã cộng hưởng tạo ra áp lực nhận thức đủ mạnh để phá vỡ khuôn khổ vũ trụ luận Aristotle-Ptolemy vốn đã thống trị gần hai thiên niên kỷ.
Là một nước giáp biển, vậy tại sao Việt Nam không có công nghệ hàng hải phát triển tương tự phương Tây? Cần tránh quy kết một cách đơn giản vào năng lực tư duy hay bản chất văn hóa của người Việt. Nguyên nhân cốt lõi nằm ở địa lý.
Bán đảo Iberia và quần đảo Anh - xuất phát điểm của thời kỳ Đại Khám Phá - nhìn thẳng ra Đại Tây Dương, tiếp giáp trực tiếp với các tuyến hải lộ dẫn đến châu Phi, châu Mỹ, và vòng qua Mũi Hảo Vọng sang châu Á. Đại Tây Dương thế kỷ 15 là đại dương trống, không có cường quốc hải quân nào kiểm soát. Không gian kết nối các tuyến hải lộ rộng mở đã tạo nhu cầu khám phá, và tài lực thu được từ những cuộc viễn chinh cho phép phương Tây không ngừng thăm dò, tiếp tục tiến xa hơn.
Biển Đông ngược lại, tại thế kỷ 15 cha ông ta chưa đủ thực lực và cũng chưa hình thành nhu cầu khám phá và chinh phục tầm xa, bởi không gian đã có mạng lưới thương mại dày đặc, bao gồm Trung Hoa, Chăm Pa, Malacca, Java. Họ đều là những cường quốc hàng hải, có tàu to, súng lớn từ lâu, không phải là những miền đất trù phú với các nền văn minh sơ kỳ đồ đồng như châu Mỹ để có thể chinh phục và khai phá. Người Việt căn bản không có khoảng trống địa chính trị để bành trướng hải ngoại như người châu Âu có ở Đại Tây Dương.
Nhìn lại toàn bộ hành trình lịch sử, sự tụt hậu khoa học kỹ thuật của Việt Nam thế kỷ 18-19 không phải hệ quả của một dân tộc yếu kém tư duy hay một học thuyết độc hại, mà là kết quả tất yếu của một cấu trúc địa lý bất lợi, một bối cảnh thời đại hỗn loạn, và là một nốt trầm không mong muốn mà mọi nền văn minh đều có lúc phải trải qua.
Nhưng chúng ta có quyền tin tưởng rằng, có trầm thì sẽ có thăng, có lúc suy rồi sẽ đến lúc thịnh. Theo quy luật đó, nếu chúng ta đủ ý chí và không tự bỏ lỡ những vận hội của mình, có lẽ thời đại sáng sủa của dân tộc đang ở trước mắt.
---
Tài liệu tham khảo:
[1] Chu Tấn, Triết lý tri-hành-sống hợp nhất của triết gia Vương Dương Minh, truy cập 20/5/2026, http://ttntt.free.fr/archive/chutan.html
[2] Nguyên gốc là "宇宙便是吾心,吾心即是宇宙", tức "vũ trụ chính là tâm ta, tâm ta tức là vũ trụ".
[3] Nguyên gốc là "方知天下之物本無可格者。其格物之功,只在身心上做"
[4] Joseph Needham, Wang Ling, (1956), Science and civilization in China- Volume 2: History of scientific thought, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 508-510
[5] Trần Trọng Kim, (1960), Vương Dương Minh, Nhà xuất bản Tân Việt, tr. 34. truy cập 20/5/2026, https://triethoc.edu.vn/vi/chuyen-de-triet-hoc/triet-hoc-dong-phuong/hoc-thuyet-cua-vuong-duong-minh-1-dao-co-mot-ma-thoi_1457.html
[6] Trần Trọng Dương, Phạm Vũ Lộc, Nguyễn Ngọc Phương Đông (2026), Lược sử khoa học và kỹ thuật Việt Nam tiền hiện đại, NXB Đại học Sư phạm.
[7] Nguyễn Ngọc Phương Đông, Kaovjets Nguyens, (2025), Thần long kích thủy, NXB Kim Đồng, tr. 57.