Khi hỏi Hòa Phát có thể sản xuất các loại thép chế tạo hay không, PGS.TS Phan Đăng Tuất nhận được câu trả lời: "Bọn em có thể làm được hợp kim, không khó. Nhưng vấn đề là mỗi doanh nghiệp của anh chỉ mua 100 - 200 tấn, trong khi bên em chạy một ca ít nhất đã là 6.000 tấn. Vậy sau đấy bán cho ai?". Mở đầu cuộc trò chuyện với Tia Sáng, PGS.TS Phan Đăng Tuất kể ngay về việc ở đầu chuỗi có thể làm luyện kim, cuối chuỗi có những doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp, nhưng doanh nghiệp chế tạo ở giữa chuỗi - biến nguyên liệu thành linh kiện, chi tiết và bộ phận máy móc lại rất nhỏ bé và phân tán.
Từ đó ông lý giải về con đường gập ghềnh của doanh nghiệp chế tạo, đề xuất giải pháp xây dựng chuỗi cung ứng nội địa, phát triển năng lực chế tạo của doanh nghiệp Việt, cũng như không chỉ phụ thuộc vào các chuỗi sản xuất do nước ngoài dẫn dắt.
PGS.TS Phan Đăng Tuất (giữa) trao đổi với doanh nghiệp chế tạo ở Phú Thọ hồi tháng 9/2026. Ảnh: Ngô Hà
- Sau hơn 20 năm theo đuổi lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, điều gì khiến ông vẫn trăn trở nhất?
- Tôi đã theo đuổi câu chuyện này gần 24 năm rồi. Khi còn là Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách phát triển công nghiệp, Bộ Công nghiệp (2003-2012), tôi đã đề xuất xây dựng một đạo luật về công nghiệp hỗ trợ, bởi tôi cho rằng đây là vấn đề quan trọng khủng khiếp. Không có luật, chúng ta khó lòng xây được một chuỗi cung ứng nội địa đủ tốt.
Nếu nhìn một nền công nghiệp theo chuỗi quá trình, chúng ta có thể chia thành năm khâu. Một là công nghiệp khai khoáng. Hai là công nghiệp chế biến. Ba là công nghiệp chế tạo. Bốn là công nghiệp lắp ráp, thành sản phẩm hoàn thiện. Năm là công nghiệp sửa chữa, bảo dưỡng và dịch vụ sau bán hàng.
Tôi muốn nói thẳng một điều, đã đến lúc chúng ta phải nhận diện lại công nghiệp hỗ trợ. Cái từ "công nghiệp hỗ trợ" mà chúng ta đang gọi - dịch từ "supporting industry" xuất hiện trong cách tiếp cận công nghiệp của Nhật Bản từ những năm 1950 - không nêu đủ bản chất của ngành. Nó chính là khâu thứ ba, chính là "công nghiệp chế tạo".
Theo đánh giá của Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ (VASI), chỉ khoảng 2.000 doanh nghiệp thực sự nên xếp vào "công nghiệp hỗ trợ" với đúng bản chất là chế tạo chi tiết, linh kiện cho nền công nghiệp. Còn lại đều là doanh nghiệp "hỗ trợ" ở các ngành khác không liên quan, như chế biến nông sản, cá tra, dệt may...
Các doanh nghiệp chế tạo đúng ra phải là hạt nhân của nền công nghiệp hiện đại, nhưng lại đang yếu ớt vô cùng. Họ không tự chủ được sản phẩm, phần lớn là đi gia công theo đặt hàng của bên thứ ba. Đôi khi thật khiên cưỡng khi gọi sản phẩm gia công của họ là "chế tạo".
Tôi xin trích một vài con số để so sánh: Việt Nam đã trở thành cứ điểm xuất khẩu, như năm 2024 toàn bộ công nghiệp chế biến, chế tạo có doanh thu xuất khẩu 356 tỷ USD. Nhưng trước đó, ước tính của OECD thì giá trị gia tăng từ nước ngoài chiếm chừng một nửa tổng giá trị xuất khẩu, đặc biệt, đối với sản phẩm máy móc là 70%. Nghĩa là trong số 52 tỷ USD máy móc xuất khẩu, giá trị gia tăng trong nước chiếm chưa tới 1/3.
Để so sánh, con số này gấp 1,5 lần và không quá cách biệt so với thủy sản chẳng hạn, đó là còn chưa bóc tách doanh nghiệp nội địa thực sự giữ lại được bao nhiêu, vì còn phải tính tiếp giá trị gia tăng thật sự của các nhà cung ứng nội địa trong đó. Rõ ràng, chúng ta mới đứng men phía ngoài, tạo ra ít ỏi giá trị từ lĩnh vực này, trong khi chế tạo, bắt đầu từ linh kiện, là con đường để doanh nghiệp có thể từng bước đi lên, với những công đoạn vừa sức.
- Các doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn. Vì sao ông vẫn cho rằng con đường hiện nay chưa đủ?
- Có một thói quen tư duy rất quán tính của chúng ta, là cứ hễ nói đến công nghiệp hỗ trợ là người ta lại nói đến tham gia chuỗi giá trị của FDI. Tôi không nói điều này hoàn toàn vô vọng, nhưng sự thực ta phải bớt hi vọng vào hướng đó đi.
Các chuỗi FDI họ không chấp nhận doanh nghiệp một cách dễ dàng như vậy đâu! Họ đưa ra mọi thứ hàng rào kỹ thuật để doanh nghiệp bản địa không tham gia được vào chuỗi. Đơn giản là vì họ phải đảm bảo chất lượng của mình, không thể chấp nhận rủi ro, và quan trọng là họ cũng có cả chuỗi cung ứng ở nước mẹ rồi.
Tôi từng phản ứng khi nghe một doanh nghiệp FDI giới thiệu rằng tỷ lệ nội địa hóa của một số sản phẩm rất cao, lên tới 60-80%. Tôi hỏi lại họ: nội địa hóa ấy bao gồm những linh kiện nào, doanh nghiệp Việt Nam làm chủ được đến đâu? Hóa ra là doanh nghiệp của mình chỉ được FDI giao làm dăm ba thứ đơn giản, như cái ống xả, cái bắt ống xả, hay cái chân chống xe máy!
Việc tham gia chuỗi, về bản chất, là phải trở thành một cái chốt, một mắt xích trong đó, mà thiếu nó thì cả cái chuỗi nó hỏng, không ra được sản phẩm cuối cùng. Còn nếu linh kiện, chi tiết của anh không có vai trò thiết yếu và có thể bị thay thế bất cứ lúc nào, thì anh khó có thể nói mình "ở trong chuỗi".
Chúng ta phải nói đúng với lãnh đạo và với chính mình rằng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước đang rất khó khăn. Họ đầu tư mạo hiểm, đầu tư công nghệ cao, nhưng lại lệ thuộc vào đặt hàng nước ngoài và không chủ động được cái gì trên thị trường hết.
Nguy hiểm hơn, nếu chỉ dựa vào đơn hàng của các tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp Việt Nam có thể bị thay thế bất cứ lúc nào. Theo hiệu ứng đàn sếu, một khi các nhà đầu mối, các tập đoàn đa quốc gia đó tìm được nhà cung cấp linh kiện ở nơi rẻ hơn, như Campuchia hay Bangladesh, thì họ sẽ bỏ mình mà đi.
Có lẽ chỉ vài năm nữa thôi, khi giá nhân công cao lên, lợi thế cạnh tranh giá rẻ của chúng ta sẽ biến mất. Muốn đứng vững trong chuỗi, doanh nghiệp Việt buộc phải tạo ra giá trị mà đối tác khó lòng thay thế được. Còn tham gia chuỗi mà làm những công việc ai cũng làm được, rất dễ bị thay thế thì chưa gọi là tham gia.
Ngay cả khi có năng lực sản xuất, vẫn không có thị trường
- Nếu không dựa vào FDI, thì doanh nghiệp chế tạo có thể bán sản phẩm cho ai?
- Đây chính là điểm nghẽn của thị trường. Chúng ta có ít doanh nghiệp, lại phân tán, thiếu trung gian chẳng hạn như tích hợp cụm linh kiện. Về công nghệ, không phải lúc nào doanh nghiệp cũng thiếu năng lực nhưng với tình trạng chuỗi chế tạo bị "lỗ mỗ" manh mún đó, khi họ sản xuất được thì lại thiếu quy mô nhu cầu đủ lớn để đầu tư và sản xuất có hiệu quả. Ngược lại, chúng ta có thị trường tiêu dùng trong nước đủ lớn, nhưng chưa trở thành bệ đỡ cho doanh nghiệp chế tạo nội địa.
Tôi lấy ví dụ về vật liệu. Hiện nay, ở khâu chế tạo, doanh nghiệp phải nhập khẩu phần lớn vật liệu phục vụ sản xuất linh kiện và chi tiết. Trong khi đó, chúng ta cũng có những doanh nghiệp luyện kim lớn như Hòa Phát nhưng chỉ sản xuất thép xây dựng mà không làm thép chế tạo do nhu cầu của doanh nghiệp Việt Nam rất phân tán. Đấy, quy mô nhu cầu manh mún khiến việc sản xuất trong nước không đạt hiệu quả kinh tế.
Vật liệu là nền tảng để sản xuất linh kiện. Không có vật liệu phù hợp, chúng ta khó làm ra những chi tiết có yêu cầu kỹ thuật cao, càng khó tiến lên các sản phẩm phức tạp hơn.
Sau khi Hàn Quốc luyện được thép, Tổng thống Park Chung Hee đã đặt điều kiện cho ngành này là phải sản xuất được hợp kim. Ba năm sau, Hàn Quốc đã làm được 60 loại thép hợp kim phục vụ chế tạo. Từ đó, họ mới làm được cầu biển, ô tô. Còn hôm nay, mình chưa làm được loại nào hết!
Vì vậy, tôi nghĩ Nhà nước phải đứng ra làm "bà đỡ". Chẳng hạn, có thể tổ chức một doanh nghiệp phi lợi nhuận, tập hợp đơn đặt hàng hợp kim của tất cả các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Doanh nghiệp này sẽ đứng ra mua chung, tạo điều kiện tối đa để bên sản xuất trong nước có đủ đơn hàng để sản xuất hợp kim, còn các doanh nghiệp nhỏ có thể tiếp cận vật liệu phù hợp với nhu cầu mà không phải tự mình đặt hàng với khối lượng quá lớn.
Hiệp hội VASI chúng tôi cũng từng bàn đến chuyện này. Nhưng mua chung thì chúng tôi không biết hạch toán thế nào, tổ chức ra sao, ai chịu trách nhiệm? Tất cả những việc này buộc phải có luật, có cơ chế pháp lý rõ ràng.
Phần lớn các doanh nghiệp chế tạo đang gia công linh kiện theo bản vẽ của bên thứ ba. Ảnh các linh kiện tại Hội thảo "Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam", tại Phú Thọ ngày 30/9. Ảnh: Ngô Hà
- Vậy theo ông, Việt Nam cần thay đổi điều gì để doanh nghiệp trong nước có thể phát triển?
Tôi nghĩ con đường mới cho công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam là buộc phải "nội sinh" - như lời ông Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, liên tục nhắc lại tại hội nghị "Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ" hồi tháng 9. Chúng ta buộc phải hình thành được các chuỗi sản xuất trong nước, trong đó các doanh nghiệp đầu chuỗi của Việt Nam đóng vai trò dẫn dắt.
Hiện nay, sau 20-30 năm phát triển, Việt Nam đã có được những tập đoàn lớn, có tiềm lực tài chính và công nghệ mạnh. Những công ty lớn như VinFast, Viettel, Thaco... đều xứng đáng là đầu chuỗi cho doanh nghiệp công nghiệp chế tạo nội địa. Vấn đề là phải có chính sách để những doanh nghiệp đầu chuỗi ấy chủ động đặt hàng từ các nhà cung cấp trong nước.
Tôi nhớ đến một đạo luật của Hàn Quốc những năm 1960, cốt lõi chỉ có tám chữ thôi - "Cấm doanh nghiệp lớn làm chi tiết nhỏ" và đưa ra 1.400 chi tiết, linh kiện mà các doanh nghiệp lớn không được làm, phải mua từ các doanh nghiệp nhỏ trong nước [1]. Cách làm này nhằm dành thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp họ có đơn hàng để đầu tư, tích lũy kinh nghiệm và phát triển năng lực sản xuất.
Theo những gì tôi tìm hiểu, chỉ sau ba năm, hàng nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ của công nghiệp hỗ trợ Hàn Quốc đã ra đời, có đơn hàng ổn định, biến nền công nghiệp vốn lệ thuộc vào Nhật Bản trở thành một nền công nghiệp tự chủ. Hàn Quốc đã bước qua bẫy thu nhập trung bình một cách ngoạn mục, đưa quốc gia trở thành nước "giàu trước khi già".
Điều tôi muốn nhấn mạnh không phải là chúng ta có thể sao chép nguyên xi mô hình Hàn Quốc. Mỗi nước có điều kiện khác nhau. Nhưng bài học ở đây là nhà nước không thể chỉ đứng ngoài, chờ thị trường tự tạo ra một hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ hoàn chỉnh. Phải có chính sách chủ động tạo thị trường, tổ chức mối liên kết và giúp doanh nghiệp trong nước tích lũy năng lực.
Tôi cũng không cho rằng cứ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu là sẽ phát triển được công nghiệp nội địa. Nếu chính sách hỗ trợ cuối cùng lại chủ yếu giúp những doanh nghiệp FDI vốn đã đủ năng lực đáp ứng tiêu chuẩn của tập đoàn mẹ, thì doanh nghiệp trong nước vẫn yếu như cũ.
Tôi mong có một chính sách đặc biệt cho công nghiệp chế tạo nội địa. Bộ Công Thương đang vạch ra những chương trình mới, mà tôi cho là rất đúng hướng. Nếu chúng ta có được những chính sách tốt cho doanh nghiệp nội địa đầu chuỗi và cho cả doanh nghiệp hỗ trợ cuối chuỗi, thì họ sẽ làm ra được những sản phẩm tốt với chi phí cạnh tranh được với hàng nhập khẩu.
Còn hiện giờ, doanh nghiệp hỗ trợ của chúng ta thực sự rất yếu thế. Hãy nhìn quanh mình xem, từ cái điều hòa, ti vi, tủ lạnh, nồi cơm điện, máy sấy v.v chúng ta đều phải nhập khẩu linh kiện từ nước ngoài về lắp ráp. Doanh nghiệp hỗ trợ Việt Nam không tham gia được gì mấy trong cái thị trường tỷ đô này. Đau buồn lắm!
Không thể làm công nghiệp bằng cách để doanh nghiệp tự bơi
- Ông nhiều lần đề cập đến một đạo luật riêng. Vì sao các chính sách hỗ trợ hiện có chưa đủ?
Tôi rất mừng khi Chính phủ có những nghị định, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp hỗ trợ. Nhưng vấn đề là các ưu đãi ấy khi đọc ra đều bị các Luật khác kiềm chế - từ Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, và các quy định liên quan.
Doanh nghiệp nhỏ muốn phát triển một nhà máy chế tạo đã phải bỏ ra rất nhiều tiền. Họ phải thuê đất, xây nhà xưởng, đầu tư thiết bị, đáp ứng các yêu cầu về phòng cháy chữa cháy, cây xanh và nhiều thủ tục khác. Khi chưa có đơn hàng ổn định mà đã phải gánh những chi phí ấy, doanh nghiệp rất khó sống.
Tôi đã đi khảo sát ở Hàn Quốc 5 lần, Nhật Bản 10 lần và đi hầu hết các nước Đông Nam Á. Ở đó, họ có những hỗ trợ rất thực tế cho doanh nghiệp ngay từ khi thành lập mà tôi thấy rất đáng suy nghĩ.
Chẳng hạn, Hàn Quốc người ta thành lập khu công nghiệp hỗ trợ, cho doanh nghiệp đến thuê nhà xưởng và khi kinh doanh có lãi mới phải trả tiền thuê theo cơ chế được thiết kế phù hợp. Cách làm ấy giúp giảm gánh nặng đầu tư ban đầu cho doanh nghiệp nhỏ.
Ảnh: Pexels
Nói thêm, nếu doanh nghiệp chế tạo của chúng ta chỉ làm các chi tiết, linh kiện thì không bao giờ tham gia được toàn cầu đâu. Chúng ta chỉ tham gia được khi làm các "cụm chi tiết". Tôi đến Nhật Bản, họ có một cụm 28 doanh nghiệp bên cạnh nhau để cùng làm cái chế hòa khí xe máy mà hầu hết các hãng xe phân khối lớn trên thế giới đều cần mua. Mỗi doanh nghiệp chỉ chuyên làm một chi tiết nhỏ thôi, rồi tất cả ghép lại thành cái chế hòa khí hoàn chỉnh. Rõ ràng, phải có cụm sản xuất như thế mới hiệu quả. Mà để có cụm này, từ năm 1957, Nhật Bản đã ra hai cái đạo luật cho công nghiệp hỗ trợ [2].
Nhật Bản cũng có các mô hình lò ấp incubator cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Họ cung cấp máy móc, mở các cơ sở để doanh nghiệp làm chế thử trước. Sau khi thấy sản phẩm tốt rồi mới bắt đầu đưa ra thị trường. Rồi phải có các trung tâm kiểm định, các chương trình hỗ trợ dùng chung hạ tầng của Chính phủ. Hàn Quốc cũng làm như vậy, Nhật Bản cũng làm như vậy.
Theo tôi, phải có một đạo luật riêng về phát triển công nghiệp chế tạo Việt Nam. Đạo luật ấy cần thiết lập, khống chế, điều phối, thúc đẩy mối quan hệ của các doanh nghiệp đầu chuỗi và cuối chuỗi, sao cho họ buộc phải phối hợp hiệu quả, chặt chẽ với nhau để ra sản phẩm.
Sản phẩm đó có thể chưa tốt, chưa hoàn hảo ngay từ đầu, nhưng bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp đầu chuỗi và cuối chuỗi - thông qua các cơ chế như đặt hàng, chia sẻ know-how, cùng phát triển tiêu chuẩn... - họ có thể cùng nhau giảm chi phí, tăng chất lượng, cạnh tranh với hàng nhập khẩu.
Tôi không nói chỉ cần có luật là mọi chuyện sẽ tự giải quyết. Nhưng nếu không có một khuôn khổ đủ mạnh để điều chỉnh quan hệ giữa các doanh nghiệp và tổ chức những cơ chế hỗ trợ phù hợp, chúng ta sẽ tiếp tục loay hoay với những chính sách rời rạc, mạnh ai nấy chạy.
Tôi biết có một doanh nghiệp Đài Loan, công ty chỉ vỏn vẹn có 27 người với vài cái máy bình thường thôi. Nhưng họ thấy cư dân Đông Nam Á mình hay ăn rau muống, họ về vẽ ra một bản thiết kế máy chẻ rau muống, rồi gọi các doanh nghiệp làm chi tiết, linh kiện xung quanh, lắp thành máy, bán được hàng. Công ty đó chính là một công ty chế tạo, mặc dù họ tham gia rất ít.
Nghĩa là, chế tạo phải bắt đầu từ ý tưởng. Nếu một doanh nghiệp đầu chuỗi tuyên bố rằng họ muốn cải tiến một cái điều hòa, thì rõ ràng các chi tiết, linh kiện của cái điều hòa cũng phải cải tiến theo. Nếu doanh nghiệp nói rằng họ muốn làm một chiếc ô tô thân thiện với môi trường, thì các nhà cung ứng bên dưới cũng sẽ dịch chuyển theo chân họ. Đó, quan hệ cộng sinh và dẫn dắt chuỗi là như thế đó!
Tôi mong Việt Nam nhìn thẳng vào vấn đề. Chúng ta không thể mãi xuất khẩu tài nguyên, nhập khẩu vật liệu, nhập khẩu linh kiện, gia công theo bản vẽ của bên thứ ba, rồi tự hài lòng vì đã tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Thế giới chỉ có một số nước luyện được đồng "sáu con chín" - đồng 6N, có độ tinh khiết đạt 99,9999% - trong đó có một nước bé xíu ở châu Âu. Vì thế, cả thế giới phải phụ thuộc vào họ. Nếu không có họ, rất nhiều sản phẩm điện tử sẽ không có được nguyên liệu tinh khiết cần thiết.
Trong tương lai, các đơn hàng sản xuất công nghiệp có thể tiếp tục dịch chuyển sang những nước có chi phí thấp hơn. Đứng trước tình thế này, ta phải tự trả lời được câu hỏi, thế giới sẽ phụ thuộc vào Việt Nam ở những mặt hàng nào?
Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!
[1] Đạo luật Khung về Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hàn Quốc (Jungsoo gieop gibonbeop). Cơ chế này hạn chế tập đoàn lớn gia nhập hoặc tự sản xuất những mặt hàng được chỉ định để bảo vệ dư địa cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Luật khung SME ra đời năm 1966, nhưng cơ chế dành riêng sản phẩm cho SME mới được đưa vào từ 1979. Xem tại: https://web.mit.edu/jamchugh/www/ucd-seminar/readings/innov-policy-11-13-09.pdf
https://gdforum.sakura.ne.jp/lec/documents/docu02/korea_BTOR.pdf
[2] Chính Thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa gia công, cung ứng Nhật Bản nhằm hỗ trợ và thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia quan hệ gia công, cung ứng cho các doanh nghiệp lớn.
Xem tại: https://www.pecc.org/images/stories/publications/SME-2007-5-The_Policy_Environment_for_Promoting_SMEs_in_Japan-Yoshimura-Kato.pdf
https://perpus.fauzy.eu.org/Development/Hirohis%20Kohama-Industrial%20Development%20in%20Postwar%20Japan%20(Routledge%20Explorations%20in%20Economic%20History)%20(2007).pdf