"Người Việt chỉ quanh quẩn sau lũy tre làng", đó là một nhận định đã xuất hiện không ít lần trên báo chí và trong các cuộc thảo luận về tư duy, về dân tộc tính. Từ thời kỳ Đổi mới, nhiều học giả và nhà quản lý đã sử dụng hình ảnh này để kêu gọi đổi mới tư duy, vượt qua tính địa phương và mở rộng giao lưu với thế giới.
Đúng là lũy tre từng tượng trưng cho cấu trúc làng xã truyền thống, nơi cộng đồng gắn bó chặt chẽ nhưng cũng có xu hướng khép kín. Nhận định "người Việt chỉ quanh quẩn sau lũy tre làng" thực chất là một phép ẩn dụ xã hội học nhằm phê phán tâm lý cục bộ, tư duy tiểu nông và sự thiếu chủ động trong hội nhập.
Mặc dù không phải là một kết luận lịch sử, nhận định này theo thời gian đã trở thành một nhận thức phổ biến và được nhiều người mặc nhiên coi là đúng.
Trong khi đó, chính sử Việt Nam, thư tịch Trung Hoa, Nhật Bản, châu Âu và những phát hiện khảo cổ học lại cho thấy cha ông chúng ta từng có một truyền thống hàng hải, ngoại thương và hội nhập lâu bền.
Truyền thống đi biển từ thời Đông Sơn
Từ rất sớm, người Việt đã vượt biển buôn bán, đi sứ, tham gia các mạng lưới thương mại quốc tế, chinh chiến trên đất liền và đại dương, để lại dấu chân từ Đông Á đến Đông Nam Á và xa hơn nữa.
Trong đó, cư dân Đông Sơn là những người có truyền thống hàng hải lâu đời. Hình ảnh thuyền xuất hiện dày đặc trên trống đồng, thạp đồng Đông Sơn - từ thuyền chiến, thuyền nghi lễ đến những con thuyền chở đầy hàng hóa trong khoang.
Các di tích khảo cổ ven biển cùng sự phân bố rộng khắp của trống đồng Đông Sơn từ miền nam Trung Quốc đến Đông Nam Á hải đảo cho thấy người Đông Sơn đã tham gia vào các mạng lưới giao thương đường biển từ hơn 2000 năm trước.
Những con thuyền ấy không chỉ chuyên chở hàng hóa mà còn góp phần lan tỏa kỹ thuật, tín ngưỡng và văn hóa Việt cổ ra khắp khu vực, đặt nền móng cho truyền thống đi biển và giao thương quốc tế của người Việt trong các thời kỳ sau.
Thuyền Đông Sơn trên thạp đồng Đào Thịnh. Ảnh: Đông Nguyễn
Trên thực tế, người Việt cổ đã sớm tạo ra nhiều phát minh và cải tiến quan trọng trong công nghệ hàng hải. Tổ tiên chúng ta biết ghép mộng để đóng tàu chắc chắn hơn, bọc đồng bảo vệ thân tàu, đan thuyền đáy nan, chế tạo máy bắn nỏ, hỏa khí, cùng các thiết bị bơm và lọc nước mặn khi đi biển. Những sáng tạo này không chỉ phục vụ đời sống và giao thương mà còn đóng góp đáng kể vào sự phát triển của kỹ thuật đóng tàu trên thế giới.
Ngay sau khi Đại Cồ Việt giành độc lập ở thế kỷ X, sử liệu Trung Quốc đã ghi nhận năng lực hàng hải của nước ta thông qua các phái đoàn ngoại giao qua lại giữa hai nước. Thay vì đi đường bộ như thời Lê, Nguyễn sau này, các sứ thần nhà Tống đến nước ta bằng đường biển trên những con thuyền mà vua Lê Hoàn cử tới Phúc Kiến đưa rước.
Cụ thể, Tống sử chép rằng, năm 981, vua Lê Hoàn sai Đinh Thừa Chính chỉ huy chín chiếc thuyền cùng ba trăm binh sĩ rước sứ thần nhà Tống là Tống Cảo từ Thái Bình Quân, đi trên biển nửa tháng đến sông Bạch Đằng, rồi theo nước triều dâng để đến kinh đô: "Năm ngoái, cuối thu, đến đất Giao Châu, Hoàn cử bọn Nha nội đô chỉ huy sứ Đinh Thừa Chính đem chín chiếc thuyền, ba trăm lính đến Thái Bình Quân nghênh đón, theo cửa biển ra đại dương, mạo hiểm sóng gió, trải bao nguy nan, qua nửa tháng đến Bạch Đằng, khi vào dòng nhỏ rồi thì theo nước triều mà đi." [1].
Cũng theo Tống sử, Thái Bình Quân (太平軍) là một địa danh thuộc Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến ngày nay [2]. Như vậy, hạm đội đón rước của nhà Tiền Lê, vượt ra ngoài khuôn khổ một cử chỉ lịch thiệp trong ngoại giao, chính là cuộc "biểu dương lực lượng" về năng lực hàng hải và thủy quân của Đại Cồ Việt.
Không chỉ các sứ đoàn ngoại giao, những biến động chính trị cũng đưa người Việt vượt biển đến những vùng đất xa xôi. Đầu thế kỷ XII, hoàng tử Lý Dương Côn, con vua Lý Nhân Tông, đã sang nhà Tống và định cư tại Cao Ly, trở thành một trong những người Việt đầu tiên được ghi nhận sinh sống trên bán đảo Triều Tiên.
Hơn một thế kỷ sau, khi nhà Lý sụp đổ, hoàng tử Lý Long Tường cùng gia quyến, tùy tùng và hàng nghìn người xuống thuyền vượt biển, xuôi theo hải trình đến Cao Ly.
Hai trường hợp này cho thấy người Việt thời Lý đã làm chủ những hải trình dài trên Biển Đông và có khả năng tổ chức các cuộc di chuyển quy mô lớn bằng đường biển, mở ra những mối liên hệ lâu dài giữa Đại Việt với các quốc gia Đông Á.
Tàu buôn Việt cập bến các nước
Nếu những đoàn thuyền viễn dương của nhà Tiền Lê và các hoàng thân nhà Lý là nỗ lực nhà nước hoặc xuất phát từ lực lượng nhà nước thì thế kỷ XVII, XVIII lại có nguồn sử liệu dồi dào về sự tham gia của lĩnh vực tư thương.
Nhiều sử liệu tại Nhật Bản cho ta biết về sự hiện diện của những con tàu buôn của người Việt đến Nhật Bản vào thế kỷ 17-18. Chẳng hạn, tập tranh "Đường thuyền chi đồ" vẽ hình thương thuyền các nước tới Nhật Bản, trong đó có hình thuyền Quảng Nam (Đàng Trong, dưới sự cai trị của chúa Nguyễn).
Ngoại Phiên Thông Thư ghi chép sắc lệnh năm 1616 (niên hiệu Genna năm thứ 2, Bính Thìn) của tướng quân Tokugawa Hidetada cấp "Chu ấn/Châu ấn" (thư đóng ấn son của Mạc Phủ) cho thuyền buôn "Giao Chỉ" để được phép cập bờ Nhật Bản [3].
Sách viết, "Đài Đức công (Tokugawa Hidetada) ban Chu ấn cho thuyền buôn Giao Chỉ. Kể từ nay, mỗi khi thuyền buôn Giao Chỉ vượt biển đến Nhật Bản, nếu chẳng may gặp bão gió mà phải ghé vào bất cứ nơi nào trong lãnh thổ Nhật Bản thì đều được phép lên bờ; chỉ cần tuyệt đối không được vi phạm pháp lệnh của nước Nhật."
Thuyền Quảng Nam trong bức vẽ "Đường thuyền chi đồ". Ảnh: Bảo tàng lịch sử Matsura
Từ năm 1647 đến 1720, Quảng Nam là điểm đi hàng đầu của thuyền mành kiểu Trung Quốc ("Đường thuyền" 唐船) đến Nhật Bản, chiếm 203 thuyền so với vị trí thứ hai là Xiêm, với 138 thuyền. [4]
Trong bối cảnh đó, Phiêu hải lục (Pyohae-rok / 漂海錄) - một tư liệu quý báu về thương mại và thương thuyền từ Việt Nam tới Nhật Bản thế kỷ 18. Đáng chú ý, tư liệu này không đến từ Việt Nam hay Nhật Bản, mà từ nước thứ ba là vương triều Triều Tiên.
Phiêu Hải Lục là tập du ký của Trương Hán Triết (Jang Han Cheol / 張漢喆), một văn sĩ ở đảo Jeju thời vương triều Triều Tiên. Năm 1770 ông đỗ hương thí, rồi lên thuyền đi kinh đô Hán Thành để tham dự kỳ điện thí. Tuy nhiên thuyền của ông bị sóng gió đánh dạt đến đảo Hổ Sơn thuộc quần đảo Okinawa (khi ấy là nước Lưu Cầu), chỉ có 29 người sống sót. Họ còn bị thuyền Nhật Bản vào cướp áo quần, vật dụng rồi trói lại.
Ngày mồng 2 tháng Giêng năm 1771, họ được một thuyền từ An Nam đi Nhật Bản buôn bán cứu vớt và cho đi nhờ đến Nhật Bản rồi từ đó mong tìm được cách về nước. Tuy nhiên được vài ngày thì những thủy thủ An Nam đuổi nhóm Trương Hán Triết xuống thuyền khi biết nhóm ông là người Jeju, vì xưa châu mục sứ Jeju từng giết hại "thế tử An Nam". Nhóm của Trương Hán Triết lênh đênh trên xuồng nhỏ rồi cuối cùng cũng về được quê quán.
Trong mấy ngày trên thuyền An Nam, Trương Hán Triết được sự trợ giúp và phiên dịch tận tình của một nhóm người Minh Hương do Lâm Tuân dẫn đầu. Hiện tác phẩm còn hai bản sao ở bảo tàng tỉnh Jeju và thư viện quốc gia Hàn Quốc.[5]
Như vậy Phiêu Hải Lục ghi nhận sự tồn tại của những đoàn thuyền buôn lớn từ Việt Nam đến Nhật Bản cho đến tận cuối thế kỷ 18. Thủy thủ đoàn đa số là người Việt và có tiếng nói quyết định trong những vấn đề trên tàu, trái với quan điểm cho rằng ngoại thương Việt Nam thời kỳ này hoàn toàn bị Hoa thương lũng đoạn.
Tập du ký còn thú vị ở sự xuất hiện của một vị hoàng tử Việt Nam chưa rõ danh tính từng đi thuyền đến Triều Tiên, bên cạnh những vị hoàng tử nổi tiếng như Lý Dương Côn, Lý Long Tường. Đáng tiếc số phận của vị hoàng tử vô danh này lại vô cùng thảm khốc, không có hậu như hai vị nhà Lý.
Chúng tôi đánh giá Phiêu hải lục là một tư liệu quý báu về sử học và dân tộc học hàng hải, và xứng đáng được mổ xẻ kỹ lưỡng.
Tranh vẽ Nguyễn Văn Tú sửa đồng hồ cơ khí phương Tây. Tác giả: Nguyễn Cao Việt.
Tiếp thu, học tập thế giới
Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn kể rằng, các chúa Nguyễn có chiếc đồng hồ Tây Phương ở Thiên Văn nội viện bị hỏng, muốn tìm người sửa chữa.
Giáo sĩ Phương Tây là Từ Tâm Bá lần lữa nhiều năm không chữa được. Lại có người Khách tên là Tài Phú quê ở Ma Cao giỏi nghề đồng hồ, nhưng cũng lấy cớ tuổi già thoái thác không nhận. Bấy giờ có ông Nguyễn Văn Tú tuy đã 74 tuổi nhưng vẫn có thể sửa xong.
Sách ghi: "Có người xưng là thợ kính của họ Nguyễn trước là thủ hợp Chiêu Tài nam Nguyễn Văn Tú có thể làm được, bèn sai theo phép mà làm, mười ngày thì xong. Văn Tú lại chế tạo một cái đồng hồ hạng trung, cũng theo thức trên, trong bớt đi 5 bánh xe và 6 quả chuông nhỏ, cùng một đường dây, cho nên không đánh khắc mà chỉ đánh giờ. So với bóng của mặt trời mà nghiệm thì rất đúng, không sai.
Văn Tú là người xã Đại Hào huyện Đăng Xương. Khi nhỏ học ở nước Hà Lan, học hai năm biết được nghề, có thể chế các hạng đồng hồ và làm được kính thiên lý rất khéo. Đã 74 tuổi mà sức mắt như lúc trẻ. Em là Văn Thi, con là Văn Duy, con rể là Lương Văn Dũng, cả nhà đều biết nghề". [6]
Như vậy, ông Nguyễn Văn Tú đã nắm vững nguyên lý của nghề đến mức không chỉ sửa chữa được mà còn biến tấu ra những kiểu đồng hồ mới tùy thích. Đây là một trong những ví dụ cho thấy người Việt không chỉ quanh quẩn ở lũy tre làng mà đã chủ động đi ra tiếp thu văn minh thế giới.
Vượt ra ngoài lũy tre làng
Những tư liệu trên chỉ là một vài lát cắt trong những chứng cứ còn lưu lại mà chúng ta mới biết. Ghi chép thành văn của chúng ta hạn chế do thất tán trong chiến tranh, nên có thể tới đây nhiều cuộc khai quật khảo cổ học sẽ cho chúng ta biết thêm nhiều điều truyền thống đi biển của cha ông ta.
Từ những con thuyền Đông Sơn vượt biển hơn hai nghìn năm trước, các thương nhân Đàng Trong thường xuyên qua lại Nhật Bản, những người Việt sang Hà Lan học nghề cơ khí rồi trở về chế tạo đồng hồ, kính thiên lý, cho đến các sứ thần, thủy thủ, thợ thủ công và di dân xuất hiện trong sử liệu Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên hay châu Âu, tất cả đều cho thấy người Việt chưa bao giờ chỉ sống khép kín sau lũy tre làng.
Ta cũng thấy truyền thống hướng ra bên ngoài của người Việt không chỉ được kiến tạo từ các chính sách của nhà nước, mà còn được nuôi dưỡng bởi giới tư thương và các cộng đồng hàng hải, tạo nên một quá trình hội nhập diễn ra cả từ "trên xuống" lẫn "dưới lên".
Có lẽ, điều cần vượt qua không phải là lũy tre làng của cha ông, mà là định kiến hiện đại cho rằng cha ông ta chưa từng bước ra khỏi lũy tre ấy.
---
Chú thích:
[1] Thác Khắc Thác 托克托, Tống sử, Liệt truyện đệ nhị bách tứ thập thất, ngoại quốc tứ, 宋史 - 列傳第二百四十七外國四. https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&chapter=154984#p45, truy cập ngày 17/11/2021
[2] Thác Khắc Thác 托克托, Tống sử, Chí đệ tứ thập nhị- Địa lý ngũ, 宋史 -志第四十二 地理五. https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&chapter=154984#p45, truy cập ngày 15/8/2022
[3] Kondo Morishige, Ngoại Phiên Thông Thư, quyển thập tam, Nhật, thời Edo
[4] Li Tana, A Maritime Vietnam- From Earliest Times to the Nineteenth Century, 2024, tr. 249.
[5] Đoạn này nằm từ trang 37-49 trong sách Phiêu Hải Lục, bản ký hiệu UCI G701:B-00047969348, hiện lưu trữ tại Thư viện quốc gia Hàn Quốc.
[6] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục. Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, 2007, tr. 419.
---
Đọc thêm: