![]() |
Không chỉ những hũ kem trôi nổi mới gây hại, mà ngay cả nhiều sản phẩm tưởng như "cao cấp" cũng bị làm giả chất lượng, "sau khi công bố sản phẩm xong lại được sản xuất bằng xô, chậu, xoong, nồi". Ảnh: TTV |
Từ lâu "Kem trộn" đã trở thành cách gọi quen thuộc cho những loại mỹ phẩm kém chất lượng, có thể mang lại làn da trắng mịn tức thì nhưng để lại hậu quả nặng nề về sau: da bị bào mòn, giãn mao mạch, mất khả năng tự bảo vệ, thậm chí nổi mụn trầm trọng hoặc nám nặng hơn.
Điều đáng lo ngại là, theo TS. Tạ Mạnh Hùng - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế), không chỉ những hũ kem trôi nổi mới gây hại, mà ngay cả nhiều sản phẩm tưởng như "cao cấp" cũng bị làm giả chất lượng, "sau khi công bố sản phẩm xong lại được sản xuất bằng xô, chậu, xoong, nồi" - ông chia sẻ tại Hội thảo "Mỹ phẩm: Từ công bố, sản xuất đến đảm bảo chất lượng" do báo Tiền Phong phối hợp Cục Quản lý Dược, Viện Kiểm nghiệm thuốc TP.HCM và Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng tổ chức cuối tháng 8/2025.
Công bố một đằng, chất lượng một nẻo
Theo "Báo cáo tổng quan ngành Làm đẹp năm 2023" trên 5 sàn thương mại điện tử ở Việt Nam, thị trường mỹ phẩm Việt Nam đang phát triển mạnh với khoảng 137.000 doanh nghiệp, doanh thu ngành đạt 37,7 nghìn tỷ đồng, sản phẩm bán ra hơn 341 triệu đơn vị, tăng hơn 50% so với năm trước. Dự báo thị trường sẽ đạt 600 triệu USD vào năm 2025, trong đó thương mại điện tử chiếm tỷ trọng ngày càng tăng - từ 20,2% (2025) đến 24% (2027). Phần lớn mỹ phẩm tiêu thụ tại Việt Nam được nhập khẩu từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc và châu Âu (chiếm khoảng 80-90%).
Theo TS. Tạ Mạnh Hùng, Việt Nam thực hiện cơ chế quản lý mỹ phẩm của ASEAN là cơ chế công bố và sau đó tiến hành hậu kiểm. Tuy nhiên, tám năm thực hiện Nghị định 93/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện sản xuất mỹ phẩm, cũng như 14 năm thực hiện Thông tư 06/2011/TT-BYT của Bộ Y tế đã bộc lộ rất nhiều những bất cập cần phải sửa đổi, Trong đó, mỹ phẩm homemade, mỹ phẩm nhà làm là các sản phẩm đặt ra nhiều thách thức cho việc quản lý chất lượng.
Một trong những vấn đề đáng chú ý đầu tiên là việc công bố sản phẩm. Đối với các cơ sở mỹ phẩm nhập khẩu, các đơn vị nhập khẩu đảm nhận chức năng công bố và là người chịu trách nhiệm cao nhất đối với chất lượng an toàn của sản phẩm lưu hành trên thị trường.
"Nhưng gần như các đơn vị không nắm được trách nhiệm của mình, rất nhiều đơn vị thực hiện công bố nhận ủy quyền nhưng không có các yêu cầu cụ thể với người chủ sở hữu sản phẩm - công ty sản xuất ở nước ngoài, dẫn đến việc các thông tin về sản phẩm không phù hợp với các hồ sơ thông tin sản phẩm thực hiện công bố", TS. Tạ Mạnh Hùng cho biết.
Điều này khiến cho khi tiến hành hậu kiểm, rất nhiều đơn vị đã bị thu hồi, thậm chí bị xử phạt do các thông tin trên phiếu công bố không giống với các thông tin sản phẩm của nhà sản xuất.
"Đối với các cơ sở trong nước, có nhiều sản phẩm mỹ phẩm trong thành phần có cả chất bảo quản nhưng không được khai báo hoặc có những chất không được sử dụng nhưng vẫn phát hiện ở trong thành phẩm", ông cho biết.
Bộ Y tế đang xây dựng nghị định quản lý mỹ phẩm, dựa trên Hiệp định hòa hợp mỹ phẩm ASEAN và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nhằm cải cách thủ tục hành chính, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát chặt chẽ. |
Không chỉ vậy, việc quản lý điều kiện sản xuất mỹ phẩm cũng là vấn đề gặp nhiều bất cập. "Đối với những đơn vị đạt CGMP (Thực hành sản xuất tốt hiện hành) thì chúng ta thực hiện tương đối tốt. Tuy nhiên, do quy định đối với giấy phép đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm không có thời hạn nên rất nhiều đơn vị sau khi được cấp giấy đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm là cứ thế sản xuất, hết thời hạn 3-5 năm mà không cần lưu ý gì cả", TS. Tạ Mạnh Hùng cho biết.
Trong khi đó, bản chất của vấn đề là phải duy trì các điều kiện sản xuất xuyên suốt quá trình - điều vẫn là một kẽ hở trong khung pháp lý hiện nay. Điều này dẫn đến việc nhiều đơn vị có thể mượn trang thiết bị, mượn điều kiện để hoàn thiện hồ sơ, sau khi công bố xong thì lại không đảm bảo được chất lượng mỹ phẩm trong quá trình lưu hành.
Chưa kể đến, do hồ sơ công bố khá đơn giản, còn các mẫu sản phẩm, tính năng, công dụng, quảng cáo lại được thực hiện sau khi công bố, "nhiều bên đã quảng cáo thổi phồng, lợi dụng và coi sản phẩm có tác dụng như thuốc để kích thích tiêu dùng", TS. Tạ Mạnh Hùng chỉ ra thực tế. Trong khi đó, số lượng nhân sự ở các Sở Y tế và các đơn vị trong hệ thống để tiến hành hậu kiểm rất ít.
"Theo số liệu, hiện nay chúng ta có gần 40 cơ sở đạt CGMP (thực hành sản xuất tốt hiện hành) và gần 1000 cơ sở đủ điều kiện sản xuất do các Sở Y tế cấp phép; cũng như gần 60.000 sản phẩm mỹ phẩm được công bố hằng năm. Song, một năm chúng ta chỉ hậu kiểm được khoảng 500 cơ sở - chiếm một tỉ lệ rất là nhỏ so với số lượng sản phẩm cũng như số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh mỹ phẩm", TS. Tạ Mạnh Hùng nói.
Cần giải pháp đồng bộ
Trong bối cảnh thị trường mỹ phẩm Việt Nam phát triển mạnh, nhưng vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng về quản lý, TS. Tạ Mạnh Hùng, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Dược, cho biết công tác quản lý trong thời gian tới sẽ tập trung vào 4 nhóm giải pháp chính.
Trước hết là tăng cường quản lý và hậu kiểm, với việc xây dựng hệ thống kiểm tra hiệu quả hơn, định kỳ rà soát sản phẩm trên thị trường, nâng cao chế tài xử phạt các hành vi vi phạm trong công bố, quảng cáo, sản xuất, đồng thời thiết lập cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc minh bạch, dễ tra cứu.
Giải pháp thứ hai là hỗ trợ phát triển mỹ phẩm sản xuất trong nước, trong đó Cục Quản lý Dược định hướng thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát triển sản phẩm, công nghệ sản xuất, bao bì và tiêu chuẩn hóa chất lượng.
Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức người tiêu dùng thông qua các chiến dịch truyền thông về mỹ phẩm an toàn, hướng dẫn lựa chọn sản phẩm uy tín và khuyến khích sử dụng công cụ kiểm tra thông tin công bố trên website của Cục Quản lý Dược.
Cuối cùng, TS. Tạ Mạnh Hùng cũng nhấn mạnh vai trò của việc tăng cường phối hợp liên ngành và quốc tế: các cơ quan như Bộ Y tế, Bộ Công thương, Hải quan, Quản lý thị trường và Công an cần phối hợp chặt chẽ, đồng thời học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các nước ASEAN và quốc tế để áp dụng phù hợp.
Ngoài ra, Bộ Y tế cũng đang xây dựng nghị định quản lý mỹ phẩm, dựa trên Hiệp định hòa hợp mỹ phẩm ASEAN và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nhằm cải cách thủ tục hành chính, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát chặt chẽ (Dự thảo dự kiến trình Chính phủ trong tháng 9/2025).
![]() |
Một số loại kem chống nắng phổ biến. |
Đồng quan điểm, bà Lê Thị Hà - đại diện Cục thương mại điện tử và Kinh tế số, Bộ Công thương, cho rằng hoàn thiện hành lang pháp lý trên môi trường số là cần thiết. Cần làm rõ trách nhiệm người bán trong công khai phiếu công bố, thông tin nhập khẩu, phân phối, đồng thời các sàn phải áp dụng cơ chế cảnh báo với sản phẩm vi phạm.
Luật Thương mại điện tử cũng cần sửa đổi để xác thực danh tính người bán, quy định trách nhiệm của mạng xã hội tham gia kinh doanh, cùng chế tài nghiêm khắc với quảng cáo, livestream bán mỹ phẩm giả.
Bà Lê Thị Hà nhấn mạnh việc phân cấp quản lý cho địa phương kết hợp ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc sẽ tạo cơ chế kiểm soát minh bạch, biến thương mại điện tử (TMĐT) thành kênh phân phối tin cậy, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện đại.
Ông Nguyễn Tấn Phong, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật Hiệp hội TMĐT Việt Nam, bổ sung loạt giải pháp đồng bộ: hoàn thiện pháp luật, tăng chế tài xử phạt và quy định rõ trách nhiệm doanh nghiệp, KOL, sàn TMĐT; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về mỹ phẩm, áp dụng mã QR và hệ thống truy xuất nguồn gốc; tăng cường nguồn lực với phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn ISO/IEC 17025, đào tạo cán bộ chuyên trách và lập đội hậu kiểm tại Trung ương, địa phương; phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế để cảnh báo sớm rủi ro.
Nhìn từ góc độ rộng hơn, bà Lê Châu Giang, thành viên Ban soạn thảo Nghị định mỹ phẩm ASEAN, nhấn mạnh mỹ phẩm không chỉ là kem dưỡng, son hay phấn mà còn bao gồm các sản phẩm chăm sóc cá nhân được sử dụng hằng ngày như xà phòng, sữa tắm, vì vậy quản lý mỹ phẩm là một phần quản lý sức khỏe cộng đồng.
Bà cũng cho rằng không có khái niệm "dược mỹ phẩm" mà chỉ có hai loại là mỹ phẩm hoặc dược phẩm. "Sản phẩm chứa tá dược là dược phẩm, và phải được quản lý như dược phẩm và cần kê đơn bác sĩ", bà nhận định
Bà Lê Châu Giang cũng lưu ý, để sản xuất mỹ phẩm an toàn, doanh nghiệp phải đầu tư từ khâu nghiên cứu và phát triển (R&D). Ngay cả khi doanh nghiệp có giấy chứng nhận GMP hay tuân thủ các tiêu chuẩn khác, yếu tố quyết định vẫn là năng lực bộ phận nghiên cứu.
Đối với các công ty OEM hay phân phối ủy quyền sản xuất, điều quan trọng là đội ngũ nghiên cứu phải hiểu rõ công thức, phản ứng hóa học giữa nguyên liệu, đảm bảo các thành phần an toàn khi kết hợp. Sau khi phát triển công thức, sản phẩm cần được đánh giá tính an toàn theo quy định ASEAN mà Việt Nam đã thực hiện. Việc đánh giá phải do chuyên gia độc chất học/dược sĩ được đào tạo bài bản, thực hiện, nhằm xác định đúng phép thử và đánh giá tương tác giữa các thành phần.
"Đây là bước then chốt quyết định tính an toàn của sản phẩm", bà nhấn mạnh. Khi công thức được đánh giá xong, cần tuân thủ việc sản xuất theo GMP để đảm bảo nguyên liệu và quy trình đúng tiêu chuẩn, không thay đổi tùy tiện, bảo vệ chất lượng sản phẩm trước khi kiểm nghiệm và đưa ra thị trường.
Bà Lê Châu Giang nhấn mạnh, quản lý năng lực nhà sản xuất là cần nhưng chưa đủ. Ngành mỹ phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe, do đó doanh nghiệp phải hiểu nghề và có chuyên gia đồng hành trong các lĩnh vực: xây dựng công thức, đánh giá độc tố, thử nghiệm lâm sàng. Chỉ khi các yếu tố này được đảm bảo, nhà sản xuất mới thực sự hoạt động hiệu quả và bền vững.
Đối với nhà phân phối, trách nhiệm pháp lý cũng được đặt lên người nhập khẩu, ngay cả khi sản phẩm sản xuất ở nước ngoài. Doanh nghiệp phải có chuyên gia hỗ trợ, lưu trữ hồ sơ mẫu, cung cấp đầy đủ hồ sơ thông tin sản phẩm (PIF - Product Information File) và phối hợp với nhà sản xuất để trả lời cơ quan quản lý. Đây là yêu cầu cơ bản để đảm bảo an toàn sản phẩm và tuân thủ pháp luật.
"Đầu tư nghiêm túc vào R&D không chỉ giúp doanh nghiệp bền vững tại thị trường Việt Nam mà còn mở ra cơ hội xuất khẩu quốc tế", bà Lê Châu Giang nhận định.
Bài đăng KH&PT số 1360 (số 36/2025)
Mỹ Hạnh

