Robert Hawes Bartlett sinh ngày 8/5/1939 ở Bệnh viện Đại học Michigan ở Ann Arbor – sau này ông dành phần sự nghiệp của mình ở đây. Lúc Robert ra đời, cha ông đang làm nội trú phẫu thuật tại Đại học Michigan. Nối nghiệp cha, ông tốt nghiệp khoa y ở đại học này vào năm 1963, rồi quay lại đây làm phẫu thuật và thực hiện nghiên cứu vào năm 1980.
Trong những năm 1960-1970, phương pháp phổ biến được dùng khi phẫu thuật tim là cho bệnh nhân nằm trong máy tim-phổi. Song thời gian sử dụng thiết bị này chỉ có thể kéo dài khoảng một tiếng, bởi vì nếu kéo dài thời gian dùng thiết bị này vận chuyển oxy vào máu thì các tế bào máu sẽ chịu tổn hại. Thời gian giới hạn là trở ngại cho những ca bệnh nặng cần thời gian phẫu thuật lâu hơn. Và ý tưởng cho một chiếc máy cải tiến manh nha xuất hiện vào năm 1965, khi bác sĩ Bartlett học nội trú phẫu thuật với bác sĩ phẫu thuật tim mạch nhi hàng đầu Robert Gross tại Bệnh viện Trẻ em Boston. Bác sĩ Bartlett đề xuất rằng một thiết bị tạo oxy – một lá phổi nhân tạo thấm khí thêm oxy vào máu và loại bỏ khí carbonic – có thể đảm nhận việc tuần hoàn máu bên ngoài cơ thể trong nhiều ngày, và nhờ thế bác sĩ có thể dùng nó để điều trị chứng suy tim, phổi.
Ý tưởng mới mẻ nhanh chóng nhận được sự ủng hộ từ bác sĩ Gross, ông đã khuyến khích chàng thanh niên trẻ Bartlett tìm cách tạo ra thiết bị này. Và dự án ấy trở thành sự nghiệp cả đời của bác sĩ Bartlett, mặc dù ban đầu ông gặp phải nhiều trở ngại.
Thiết bị ECMO bao gồm một vòng mạch bên ngoài tạo thành từ các ống, một máy bơm có chức năng như quả tim, và một lớp màng làm lá phổi nhân tạo. Thiết bị này liên tục bơm máu ra khỏi cơ thể, thêm oxy, loại bỏ carbonic, làm ấm dòng máu và rồi vận chuyển lại cơ thể.
Việc điều trị bằng ECMO có thể kéo dài trong nhiều ngày, nhiều tuần hoặc thậm chí lâu hơn, cho phép quả tim và lá phổi được nghỉ và hồi phục khỏi các chấn thương như hội chứng suy hô hấp cấp tính, cục máu đông, đau tim hoặc tổn thương do tai nạn giao thông. Nó cũng được dùng cho những bệnh nhân đang chờ ghép tim hoặc phổi, và ECMO ngày càng được sử dụng nhiều trong những trường hợp khẩn cấp cho người bị ngưng tim.
"Về cốt lõi, thiết bị này giữ cho bộ não sống cho tới khi bạn chữa khỏi cho cơ thể", phó giáo sư về y học khẩn cấp Helen Ouyang tại Đại học Columbia trả lời trong một cuộc phỏng vấn. "Ông ấy thực sự cải tiến lĩnh vực này, không bao giờ dừng tin tưởng vào nó và tiếp tục thúc đẩy những giới hạn về ứng dụng của cỗ máy".
Năm 1971, bệnh nhân người lớn đầu tiên đã thành công qua khỏi khi điều trị bằng ECMO. Tuy nhiên, một nghiên cứu lâm sàng ban đầu được thiết kế kỳ quặc, có sự tham gia của nhiều trung tâm y tế, dựa vào nhiều quy trình khác nhau, trong một số trường hợp còn liên quan tới nhân viên y tế thiếu kinh nghiệm sử dụng phương pháp điều trị ECMO, đã đi đến kết luận rằng điều trị bằng ECMO không thành công cứu sống bệnh nhân hơn phương pháp chăm sóc truyền thống.
"Điều đó khiến ECMO không được dùng để chữa trị cho bệnh nhân người lớn trong 30 năm tiếp theo", bác sĩ Bartlett trả lời tạp chí Times vào năm 2024.
![]() |
Bác sĩ phẫu thuật Robert Hawes Bartlett (1939-2025) là người tạo ra thiết bị oxy hóa màng ngoài cơ thể - thiết bị đã góp phần cứu sống hàng trăm nghìn sinh mạng. Nguồn: Đại học Michigan |
Phương pháp điều trị này hiệu quả hơn ở trẻ sơ sinh chưa phát triển hoàn toàn hoặc bị tổn thương tim hoặc phổi. Năm 1975, trong thời gian ở Đại học California, Irvine, bác sĩ Bartlett cùng nhóm phẫu thuật đã thành công sử dụng phương pháp ECMO lần đầu tiên cho trẻ sơ sinh bị suy phổi do mắc hội chứng hít phân su và bị người mẹ bỏ lại bệnh viện.
Đứa trẻ này được các điều dưỡng đặt tên là Esperanza (có nghĩa là Hy vọng trong tiếng Tây Ban Nha). Sau sáu ngày sử dụng máy, em đã hồi phục hoàn toàn và khỏe mạnh trưởng thành. Nhiều năm sau, Esperanza vẫn duy trì liên lạc với bác sĩ Barlett, cùng ông tham gia các hội nghị và ngồi xem các trận bóng đá của Đại học Michigan – hoạt động yêu thích của ông.
Nhờ ECMO, tỷ lệ tử vong lên đến 80% của trẻ sơ sinh bị hô hấp khó khăn đã biến thành 80% tỷ lệ sống sót.
"Nếu bác sĩ Bartlett không ở đó vào ngày tôi sinh ra, thì tôi sẽ không ở đây ngày hôm nay", Esperanza Pineda, lúc này đã 50 tuổi, trả lời trong một cuộc phỏng vấn.
Sau khi được sử dụng ngày càng nhiều ở trẻ sơ sinh, trẻ em và người trưởng thành trong những năm 1990 và 2000, cứu mạng người trong trận bùng phát dịch cúm heo H1N1 vào năm 2009, ECMO trở nên nổi tiếng hơn và lại được ghi nhận tầm quan trọng khi đại dịch Covid-19 nổ ra vào năm 2020. Theo danh sách chính thức của Tổ chức Hỗ trợ sự sống ngoài cơ thể mà bác sĩ Bartlett thành lập, hơn 16.300 bệnh nhân Covid bị suy hô hấp nghiêm trọng phải nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt (ICU), và tới hơn một nửa số bệnh nhân đã qua khỏi.
Một danh sách chính thức các ca ECMO quốc tế cho thấy tổng cộng hơn 261.000 bệnh nhân ốm nặng (gồm trẻ sơ sinh, trẻ em và người lớn) trên toàn thế giới đã được điều trị bằng phương pháp này, gần 800 cơ sở y tế ở 66 quốc gia áp dụng ECMO; khoảng 54% bệnh nhân điều trị bằng ECMO sống sót ra viện, hơn 100.000 sinh mạng đã được cứu sống.
Trong hơn 50 năm, bác sĩ Bartlett cùng đội ngũ của mình đã giành được tài trợ từ Viện Y tế Quốc gia Mỹ để hỗ trợ nghiên cứu về chăm sóc ECMO và các công nghệ hỗ trợ sự sống tiên tiến. Ông đã công bố gần 600 bài báo trong suốt sự nghiệp của mình, là nhà phát minh của vô số sáng chế (bằng sáng chế mới nhất được cấp vào đầu năm nay). Ông đã lãnh đạo nhóm phát triển phòng thí nghiệm Hỗ trợ Sự sống Ngoài cơ thể của Đại học Michigan. Phòng thí nghiệm này vẫn tiếp tục thực hiện công trình của bác sĩ Bartlett về phát triển các thiết bị cứu mạng, bao gồm lá phổi nhân tạo đeo được và nhau thai nhân tạo; giảm nguy cơ đông máu và viêm khi sử dụng ECMO, và kéo dài "độ tươi" của cơ quan trước khi cấy ghép.
Khi việc sử dụng ECMO được mở rộng, bác sĩ Bartlett giúp thành lập Tổ chức Hỗ trợ Sự sống Ngoài cơ thể để cung cấp hỗ trợ cho các bác sĩ sử dụng thiết bị này thông qua việc giáo dục thường xuyên, hướng dẫn, nghiên cứu gốc, các bài báo xuất bản và danh sách toàn diện về dữ liệu của bệnh nhân ECMO.
Với những cống hiến lớn cho ngành y, bác sĩ Bartlett nhận được vô số giải thưởng và danh hiệu, trong đó bao gồm đề cử vào Viện Y học Quốc gia vào năm 2003, bầu làm thành viên của Hội Phẫu thuật viên Mỹ, ông còn được vinh danh là Viện sĩ Viện Hàn lâm Sáng tạo Quốc gia Hoa Kỳ vào năm 2024 – danh hiệu chuyên môn cao quý nhất chỉ trao cho các nhà phát minh.
Nguồn: michiganmedicine.org, nytimes.com
Bài đăng KH&PT số 1374 (số 50/2025)
Anh Thơ tổng hợp:
