Nhà Minh tìm những người có kỹ năng từ Giao Chỉ đưa về Trung Quốc, đặc biệt là các trẻ em trai có dung mạo tuấn tú để đào tạo làm thái giám. Ảnh minh họa: Baidu
Năm 1407, nhà Minh hoàn tất xâm lược Đại Ngu, đổi tên là Giao Chỉ. Trong những năm tiếp theo, triều đình Minh tiến hành một chương trình quy mô lớn nhằm tìm những người có kỹ năng từ Giao Chỉ đưa về Trung Quốc, nhất là các trẻ em trai có dung mạo tuấn tú để đào tạo làm thái giám.
Trong số đó có một nhóm trẻ trai đặc biệt: Phạm Hoằng, Vương Cẩn, Nguyễn An và Nguyễn Lãng. [1] Bốn cậu bé cùng rời quê hương Giao Chỉ đến Bắc Kinh một đợt. Từ đó, cuộc đời họ đi theo bốn hướng khác nhau.
Phạm Hoằng được Thành Tổ yêu mến vì ăn nói tao nhã, gọi là "Bồng Lai cát sĩ". Nhưng năm 1449, ông theo hầu vua Anh Tông ra trận và chết trong thảm họa Thổ Mộc Bảo. Nguyễn Lãng cũng bước lên khá cao trong nội đình, nhưng rồi vướng vào một vụ án oan khuất và bị xử tử. Nguyễn An trở thành một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử xây dựng Bắc Kinh, mà chúng tôi sẽ không đi sâu trong loạt bài này vì ông đã được nhiều người Việt biết tới.
Còn Vương Cẩn có một ngã rẽ khác.
Bước chân vào quân chính
Một ngày mùa hạ năm 1433, đoàn người kéo dài rước một vị quan lớn oai phong diễu qua Thái Thương (Trung Quốc). Trong đám người nô nức đổ ra xem, có một cậu bé trạc mười ba tuổi. Cậu nghe người lớn kháo nhau, đây là quan đại thái giám Trần Vu được triều đình cử đi niêm phong những bảo thuyền Tây Dương vừa trở về sau chuyến hải hành cuối cùng của thái giám - đô đốc Trịnh Hòa [3].
Những con tàu khổng lồ từng nhiều lần vượt biển đến những đất nước xa xôi, giờ đây trở về, nằm im lìm trên bến cảng. Ít ai biết rằng, đó là chuyến đi cuối cùng của hạm đội nổi tiếng này. Cảnh tượng choáng ngợp chưa từng thấy ấy có lẽ đã in đậm trong trí óc cậu bé để rồi nhiều năm về sau, khi đã lớn, đọc được mộ chí của vị thái giám nọ, cậu cảm thán trong Thủy Đông nhật ký của mình: "Ta còn nhớ thuở nhỏ từng thấy Trần Vu đi qua Thái Thương để niêm phong những bảo thuyền Tây Dương, thanh thế rất lớn; việc này trong chí hiện có không ghi lại đầy đủ!" [2][3]
Cậu bé ấy là Diệp Thịnh (1420-1474), mười hai năm sau sẽ đỗ tiến sĩ (năm 1445), làm quan đến chức Tả thị lang Bộ Lại và trở thành một học giả có tiếng. Còn vị thái giám oai phong kia chính là Vương Cẩn. Vài dòng hồi ức của Diệp Thịnh đã phần nào phản ánh địa vị, vai trò của Vương Cẩn.
Bản sao mô phỏng một Tây Dương bảo thuyền của hạm đội Trịnh Hòa tại lễ hạ thủy năm 2006, nhân kỷ niệm 600 năm hành trình của hạm đội, ở Nam Kinh, Trung Quốc. Ảnh: China Photos
Vương Cẩn (王瑾) vốn tên Trần Vu (陈芜), người Giao Chỉ, nhập nội phủ vào năm 1407, khi cũng chỉ trạc tuổi Diệp Thịnh lúc ngắm nhìn ông ở Thái Thương. Trần Vu được ghi là người ngày đêm hầu cận bên Minh Tuyên Tông - Chu Chiêm Cơ, lúc đó còn là Hoàng thái tôn. [1]. Nếu chỉ đọc câu chuyện về những trẻ em Giao Chỉ được đưa về Bắc Kinh như một chương trong lịch sử cưỡng bức di chuyển nhân lực, rất dễ hình dung họ là những người bị đưa vào cung rồi sống như nô lệ. Nhưng trường hợp Trần Vu cho thấy một con đường khác, ông sớm trở thành người thân cận và được tin tưởng bên Hoàng thái tôn [1][3].
Năm 1425, Chu Chiêm Cơ lên ngôi, trở thành Minh Tuyên Tông. Trần Vu được ban họ tên mới là Vương Cẩn. Từ đây, Vương Cẩn không chỉ quanh quẩn nơi cấm cung mà bắt đầu bước chân vào lĩnh vực quân sự. Minh sử chép rằng: Tháng 8 năm 1426, Hán Vương - Chu Cao Hú (chú ruột của vua) dấy binh làm phản tại Lạc An. Minh Tuyên Tông quyết định thân chinh dẹp loạn, Vương Cẩn hăng hái tháp tùng ngự giá ra chiến trường và lập nhiều công trạng, góp phần giúp cuộc trấn áp thành công nhanh chóng [1][2].
Sau chiến công này, ông tiếp tục được tin cậy giao tham dự vào các việc quân sự trọng yếu. Những khoản ban thưởng dành cho ông tích lũy tới mức "cự vạn", một cách nói ước lệ cho thấy quy mô ban thưởng rất lớn. Nhà vua nhiều lần ban cho ông các ấn bạc (ngân ký) có khắc những dòng chữ ca ngợi như "Trung can nghĩa đảm" (Trung nghĩa từ tận đáy lòng), "Kim điêu quý khách" (Khách quý đội mũ lông chim điêu), "Trung thành tự lệ" (Tự lấy lòng trung thành để rèn luyện bản thân) và "Tâm tích song thanh" (Thanh cao từ trong ra ngoài) [3].
Thủy Đông nhật ký của Diệp Thịnh cũng ghi nhận ông được nhà vua ưu ái ban cho biểu tự "Nhuận đức" (Đức hạnh thấm nhuần), cùng hàng loạt vật phẩm quý giá như đai ngọc, yên vàng, ngựa tốt, lụa và tiền giấy... [1][2].
Những dòng ấy phần nào cho thấy sự quý trọng Tuyên Tông dành cho Vương Cẩn. Nhưng điều đáng chú ý nhất lại nằm ở một sự kiện diễn ra nhiều năm sau.
Đốc quản hỏa khí
Năm 1448, cuộc nổi dậy của Đặng Mậu Thất bùng lên ở Phúc Kiến, khiến triều Minh phải điều động một đội quân lớn để đàn áp [4]. Tổng chỉ huy là Ninh Dương hầu Trần Mậu, còn hai thái giám Vương Cẩn và Tào Cát Tường được giao giữ chức "đốc quản hỏa khí" (提督火器) [1]. Điều đó khiến Vương Cẩn trở thành một nhân vật đáng chú ý trong lịch sử quân sự Minh triều. Trong một cuốn sách sau này, Vương Thế Trinh đã nhận định: thái giám dùng hỏa khí chính là bắt đầu từ đây! [10]
Nhà Minh sớm đã xây dựng các đơn vị và cơ cấu chuyên trách về hỏa khí, trong đó Thần Cơ doanh (huấn luyện và sử dụng hỏa khí) và Binh Trượng cục (chế tạo và bảo quản binh khí) là những bộ phận quan trọng của quân đội. Vương Cẩn được giao trực tiếp quản lý hỏa khí trong một chiến dịch quân sự lớn, nghĩa là ông phải lấy binh khí do Binh Trượng cục sản xuất và Thần Cơ doanh bảo quản để đưa đến sử dụng ở mặt trận; đồng thời chỉ huy, phân bổ, giám sát đội hỏa khí đó. Tất cả cho thấy Vương Cẩn không chỉ là một hoạn quan làm việc trong nội đình mà còn được triều đình tin tưởng vào khả năng tổ chức tác chiến, phối hợp cũng như am hiểu về lĩnh vực kỹ thuật-quân sự nhạy cảm.
Ở đây lại xuất hiện một sự trùng hợp với lịch sử người Giao Chỉ trong quân đội Minh. Trước Vương Cẩn, một người Giao Chỉ khác là Lê Trừng (黎澄), tức Hồ Nguyên Trừng - con trai Hồ Quý Ly - đã nổi tiếng tại Minh triều về kỹ thuật chế tạo hỏa khí. Minh sử ghi rằng Lê Trừng dâng "thần thương pháp", được Minh Thành Tổ bổ nhiệm làm đốc tạo binh khí tại Binh Trượng cục. Sau ông được thăng tới chức Thượng thư bộ Công. Sử nhà Minh vì thế nói việc triều Minh có hỏa khí Giao Chỉ bắt đầu từ ông [1].
Khi Vương Cẩn điều động đại pháo ra Phúc Kiến thì Lê Trừng đã qua đời được hai năm, nhưng con trai ông là Lê Thúc Lâm vẫn đang tiếp tục nghề chế tạo quân khí và sau làm tới Hữu thị lang Bộ Công. Ngoài ra, còn nhiều người gốc Giao Chỉ cũng đã làm việc ở đơn vị hỏa khí này, mà một vài trong số họ còn lưu lại tên trong sử sách [1][5].
Khi Vương Cẩn xuất hiện trong chiến dịch Phúc Kiến năm 1448, ông là người đốc quản chính những vũ khí kế thừa truyền thống kỹ thuật hỏa khí của những người Giao Chỉ được đưa vào bộ máy nhà Minh.
Hình vẽ binh khí Phi vân tích lịch báo pháo (Khẩu pháo/đạn pháo nổ như sấm sét mây bay) trong sách Vũ/Võ bị chí (武备志, Luận thuyết Chuẩn bị quân sự) của Mao Nguyên Nghi (茅元仪). Nguồn: Wuguo
Đặc ân bất thường
Nếu quân sự là một mặt nổi trội của Vương Cẩn, thì mức độ hoàng đế sủng ái ông lại là mặt khác còn kỳ lạ hơn. Như trên đã nói, Minh sử ghi rằng ông được ban thưởng hậu hĩnh nhiều lần với những lời ca ngợi đặc biệt. Nhưng Diệp Thịnh trong Thủy Đông nhật ký còn cung cấp thêm nhiều chi tiết mà bản tiểu truyện trong chính sử không ghi: Vương Cẩn từng được ban cho hai cung nữ để làm "phu nhân" [2][3]. Người con nuôi của ông, ban đầu tên Trần Lâm, cũng được phong quan và đổi theo họ Vương thành Vương Xuân (王春) [2][3].
Đây là một đặc ân thật sự bất thường, và không phải là không có người dũng cảm phản đối, để rồi nhận lấy hình phạt thảm khốc [3]. Dù không nên từ đó suy đoán quá xa về đời sống riêng tư của Vương Cẩn, có một điều chắc chắn là vua Tuyên Tông đã dành cho ông một hình thức ban thưởng đặc biệt, vượt xa thông lệ bình thường của một hoạn quan. [6]
Minh sử ghi lại: "Mức độ được sủng ái của ông, Kim Anh và Phạm Hoằng cũng không thể sánh bằng". Chi tiết này đặc biệt đáng chú ý nếu đặt Vương Cẩn cạnh những nhân vật đầy quyền lực đã xuất hiện trong bài trước của chúng tôi.
Phạm Hoằng là thái giám Tư lễ giám (cơ quan đứng đầu thái giám); còn Kim Anh từng là một trong những thái giám quyền lực nhất thời Tuyên Đức – Chính Thống (thời vua Tuyên Tông và thời kỳ đầu của vua Anh Tông). Cả hai có quyền chức cao hơn và đều được nhận ấn bạc cùng kim bài miễn tử, nhưng vẫn chưa thể so được với Vương Cẩn. [1]
Những dấu ấn của Vương Cẩn được lưu lại trong sử liệu, từ những chiến công ở Lạc An Châu và Phúc Kiến tới quá trình kiểm kê và niêm phong đội bảo thuyền Tây Dương của Trịnh Hòa ở Thái Thương, cho thấy mạng lưới công việc của một thái giám cấp cao thời Minh có thể vươn xa khỏi không gian cung đình.
"Vương Cẩn chính là tâm phúc của trẫm" - tạo hình vua Chu Chiêm Cơ - Minh Tuyên Tông trong phim Đại Minh phong hoa. Nguồn: National Humanity History
Ngã rẽ số phận
Năm 1449 là một bước ngoặt. Minh Anh Tông tự mình dẫn quân bắc chinh chống Ngõa Lạt (Oirat) và thất bại thảm khốc tại Thổ Mộc Bảo, bản thân bị bắt, triều đình Minh bước vào cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng nhất của thế hệ ấy [1].
Sau khi Anh Tông bị bắt và em trai là Chu Kỳ Ngọc lên ngôi Cảnh Đế, Vương Cẩn chuyển sang phục vụ vị hoàng đế mới này [1]. Nhưng ông không sống đủ lâu để chứng kiến một sự kiện lịch sử khác là Đoạt Môn chi biến hay cuộc chiến giành lại ngôi vua của Minh Anh Tông năm 1457.
Trong thời Cảnh Thái, ông lâm bệnh nặng. Diệp Thịnh kể rằng triều đình liên tục phái tới tám thái y mang thuốc ngự ban đến chữa trị; các hoạn quan còn đem vàng, lụa, đồ ăn thức uống tới thăm hỏi không ngớt [2]. Cuối cùng, Vương Cẩn qua đời trước khi Anh Tông giành lại được ngai vàng từ người em. Năm sinh và năm mất chính xác của ông không được chính sử ghi lại rõ ràng [1][5].
Điều này cũng có nghĩa Vương Cẩn không phải một nhân vật trực tiếp tham dự Đoạt Môn chi biến, và không phải chịu những tai ương mà một người phục vụ Cảnh Đế như ông có thể gặp phải. Khác với Hưng An, người sống đến sau cuộc chính biến và bị Anh Tông cách chức (nhưng tha tội chết), hay như đại thần Vu Khiêm đầy công lao bảo vệ Bắc Kinh trước cuộc tấn công của Ngõa Lạt cuối cùng cũng bị xử tử [1].
Dấu tích còn lại dưới lòng đất Nam Kinh
Sau khi Vương Cẩn qua đời, ông được an táng ở khu vực Ngưu Thủ Sơn, Nam Kinh. Gia tộc và tùy tùng của ông còn có người được ban chức tước [1][2]. Nhưng dấu tích về ông đến nay còn lại nằm ở một nơi khác: phủ đệ của ông tại Nam Kinh, nơi sau đó được cải thành Thừa Ân tự (承恩寺).
Văn bia về ngôi chùa cho biết nơi đây vốn là ‘cố đệ’ của Vương Cẩn. Các tư liệu đời sau lưu truyền rằng ông từng xin hiến ngôi nhà cho việc dựng chùa. [6][7]
Quy mô của ngôi chùa khá đồ sộ, nằm ngay giữa những khu phố sầm uất của Nam Kinh. Các ghi chép về Thừa Ân tự cho biết khu kiến trúc có sáu đại điện và hơn 120 gian phụ trợ. Đáng tiếc là ngôi chùa đã bị cháy rụi trong một trận hỏa hoạn năm 1900. Đến năm 2006, trong quá trình xây dựng tại khu vực Tam Sơn Nhai ở Nam Kinh, các nhà khảo cổ học đã phát hiện những cấu kiện kiến trúc nằm sâu khoảng ba mét dưới mặt đất: nền đài bằng gạch, những chân cột đá khổng lồ, một bệ Tu-di bằng đá và một trán bia chạm rồng mây. Những dấu tích ấy được xác định là phần còn lại của Thừa Ân tự thời Minh [6][7].
Nói cách khác, dấu vết của Vương Cẩn không chỉ nằm rải rác trong Minh sử hay qua mấy dòng hồi ức của một học giả, mà vẫn hiện hữu rõ ràng dưới lòng một khu đô thị hiện đại ngày nay.
Khu đất từng là Thừa Ân tự ở Nam Kinh, năm 2006. Ảnh: ChinaNews
Một "mạng lưới Giao Chỉ" rộng hơn những gì chúng ta tưởng
Điều đáng suy nghĩ nhất từ câu chuyện Vương Cẩn có lẽ nằm ở câu hỏi: Vương Cẩn là trường hợp cá biệt, hay chỉ là một người hi hữu được sử sách lưu lại dấu vết?
Với bộ máy hoạn quan lên tới hàng vạn người, nhà Minh có thể được ví von như một "đế quốc thái giám". Đặc biệt, các hoàng đế nhà Minh rất ưu ái hoạn quan gốc nước ngoài. Trong công trình nghiên cứu về thái giám triều Minh, nhà sử học Henry Tsai chỉ ra rằng: An Nam và Triều Tiên là hai nguồn cung cấp hoạn quan ngoại quốc lớn nhất cho cấm cung Trung Hoa.
Vị trí địa lý gần gũi và tương đồng văn hóa là những nguyên nhân quan trọng, nhưng lý do cốt lõi hơn nằm ở tính chất chính trị: các thái giám ngoại quốc rất ít mối liên hệ gia tộc ở quê nhà, giúp triều đình giảm thiểu rủi ro về kết bè kéo cánh hay mầm mống phản loạn so với thái giám người Trung Quốc [8][9].
Ngoài ra, những tư liệu về chính sách tuyển người Giao Chỉ đầu thời Minh cho thấy phạm vi trưng tập rộng hơn rất nhiều. Các chiếu chỉ của Minh Thành Tổ - Chu Đệ yêu cầu tìm y sĩ, thầy bói, người làm nhạc, các loại thợ thủ công, người biết chế tạo và sử dụng hỏa khí, người giỏi đi biển, cùng nhiều nhóm kỹ nghệ khác [5]. Các đợt tuyển mộ từ Giao Chỉ trong những năm đầu Vĩnh Lạc được một số nghiên cứu tổng hợp là có thể đã đưa hơn 16.000 người về Trung Quốc, chưa tính các hoạn quan [3].
Như vậy, trong quá trình thiết lập quyền cai trị ở Giao Chỉ, nhà Minh không chỉ lấy đi của cải và sách vở mà còn thực hiện một hình thức "hút nhân lực" ở quy mô lớn, nhắm tới những người có kỹ năng mà triều đình cho là hữu dụng. Trần Học Lâm bình luận: "Bấy giờ, giới tinh hoa, thợ giỏi và nhân tài kiệt xuất của An Nam gần như bị quân Minh hốt trọn một lứa!" [3]
Trong hàng nghìn số phận ấy, không phải ai cũng được sử sách lưu lại tên tuổi như những nhân vật như Nguyễn An, Lê Trừng, Vương Cẩn hay Phạm Hoằng, nhưng chắc chắn dấu ấn họ để lại không biến mất khỏi lịch sử sau khi vượt qua biên giới.
Một số trở thành quan lại, kỹ sư hay chuyên gia. Một số trở thành thái giám quyền lực. Một số chết trong chiến tranh. Một số chết trong các cuộc thanh trừng chính trị. Một số được ban thưởng đặc biệt và có hậu vận tốt đẹp. Một số khác chỉ còn lại vài dòng chữ trên bia mộ. Còn lại phần lớn vô danh, được gộp chung vào một con số đơn độc kia.
Toàn bộ bức tranh khổ lớn và nhiều màu sắc ấy, với rất nhiều những nhân vật và tư liệu chưa được khai thác hết, có lẽ cần một công trình rộng hơn loạt bài viết này mới có thể trình bày đầy đủ.
Số phận những vị thái giám người Việt trong lịch sử triều Minh (Kỳ 1)
Số phận những vị thái giám người Việt trong lịch sử triều Minh (Kỳ 2)
[1] Trương Đình Ngọc (張廷玉) chủ biên, Minh sử (明史), Quyển 304, Liệt truyện 192: Hoạn quan nhất. https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&res=410835&remap=gb
[2] Diệp Thịnh (葉盛), Thủy Đông nhật ký (水東日記), Quyển 34, mục Thái giám Trần Vu ân sủng (太监陈芜恩宠). https://ctext.org/wiki.pl?if=en&chapter=227433
[3] Trần Học Lâm (Chen Xuelin / 陈学霖), Minh trung diệp An Nam tịch hoạn quan Vương Cẩn sự tích khảo thuật (明中叶安南籍宦官王瑾事迹考述 - Khảo thuật về sự tích hoạn quan gốc An Nam Vương Cẩn giữa thời Minh), Cố Cung học (Tạp chí Cố Cung học), 2008/2019. https://www.dpm.org.cn/court/talk/250716.html
[4] Cốc Ứng Thái (谷應泰), Minh sử kỷ sự bản mạt (明史紀事本末), Quyển 31: Đặng Mậu Thất chi loạn (Cuộc nổi dậy của Đặng Mậu Thất).
[5] Minh thực lục (明实录) – Phần Thái Tông Thực Lục, Anh Tông Thực Lục. https://zh.wikisource.org/wiki/明實錄
[6] Vương Tuân, Thừa Ân tự ký lược (承恩寺记略), trích trong Cố Cung học刊 (Tạp chí Cố Cung học), 2008. https://www.shidianguji.com/zh/mid-page/7557105045718007854
[7] Ủy ban Quản lý Di tích Lịch sử Nam Kinh, Báo cáo khảo cổ di tích Thừa Ân Tự tại Tam Sơn Nhai, Nam Kinh (2006); đối chiếu với Cát Dẫn Lượng (葛寅生), Kim Lăng Phạm Sát Chí (金陵梵刹志 - Ghi chép về các chùa chiền ở Kim Lăng). https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&res=524937&remap=gb
[8] Dale, Melissa S., Inside the World of the Eunuch: A Social History of the Emperor’s Servants in Qing China, Hong Kong University Press, 2018/2019. https://www.academia.edu/70881671/Inside_the_World_of_the_Eunuch
[9] Tsai, Shih-shan Henry (Thái 石山), The Eunuchs in the Ming Dynasty, State University of New York Press, 1996. https://openlibrary.org/works/OL2931319W/The_eunuchs_in_the_Ming_dynasty
[10] Vương Thế Trinh (王世貞), Yêm Sơn Đường biệt tập (弇山堂別集), Quyển 90–95: "Trung Quan Khảo" (中官考). https://www.shidianguji.com/zh/book/SK0835/chapter/1kfb1ohccijol