![]() |
Giới thiệu sản phẩm công nghệ của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc tại sự kiện "Kết nối công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam 2024". |
Đó là sự kỳ vọng của cộng đồng khoa học vào bộ khung chính sách mới cho các hoạt động chuyển giao công nghệ và các hoạt động hợp tác phát triển công nghệ giữa nhà khoa học và doanh nghiệp. Nếu bộ khung này vận hành tốt, đủ sức đem lại một sức sống mới cho các công nghệ nội sinh và trao cho các nhà khoa học cơ hội thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu thông qua việc góp vốn, lập công ty spinoff hoặc đơn giản là chuyển giao cho doanh nghiệp thì đây sẽ là một thay đổi lớn, điều mà Luật Chuyển giao công nghệ 2017 không làm được. Trong một xã hội đang khao khát chuyển đổi, tìm cách bước ra khỏi phạm vi quốc gia có thu nhập trung bình bằng mô hình lấy KH&CN và đổi mới sáng tạo làm trung tâm, việc thúc đẩy các công nghệ nội sinh ra khỏi cánh cửa phòng thí nghiệm là một trong những cách thức tốt nhất, bền vững nhất.
Trong sáu nhóm chính sách mà Bộ KH&CN tập trung trong cuộc sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ, có tới một nửa liên quan đến công nghệ nội sinh, như hỗ trợ và thúc đẩy chuyển giao công nghệ nội sinh; phát triển thị trường KH&CN; tạo động lực tài chính, thể chế và pháp lý để khuyến khích, ưu đãi hấp dẫn cho cả bên chuyển và bên nhận.
Liệu những sửa đổi chính sách này có đủ sức xoay chuyển tình thế, hay ít nhất có thể giải phóng các công nghệ nội sinh còn đang ứ đọng trong phòng thí nghiệm?
Trao quyền sở hữu cho người "mang nặng, đẻ đau"
Khi nhìn lại những vướng mắc làm nghẽn dòng công nghệ mới từ các trường, viện ra đến thị trường, có thể thấy phần nhiều chính là việc xác định ai là chủ sở hữu công nghệ. Thông thường, nhà khoa học, người thực hiện nghiên cứu dự án từ ngân sách nhà nước, có được những kết quả có tiềm năng ứng dụng thành công nghệ và quyết định phát triển, tối ưu nó thành công nghệ có thể chuyển giao. Cứ giả định là công nghệ của họ hứa hẹn có thể tạo ra những sản phẩm mới hoặc chí ít cũng đem lại những đặc tính mới "nhanh, rẻ, bền, đẹp" so với các sản phẩm dùng dạng hiện hành trên thị trường, thì rất có khả năng họ sẽ được các doanh nghiệp săn đón. Và nếu giả định là hai bên đạt tới một thỏa thuận chung về công nghệ mới thì tới khi rà soát thông tin, chuẩn bị tài liệu cho việc ký kết hợp đồng một cách chính thức, cả hai bên mới tá hỏa ra rằng, trên thực tế nhà khoa học, "cha đẻ công nghệ" lại không phải là chủ sở hữu công nghệ.
Trong một xã hội đang khao khát chuyển đổi, tìm cách bước ra khỏi phạm vi quốc gia có thu nhập trung bình bằng mô hình lấy KH&CN và đổi mới sáng tạo làm trung tâm, việc thúc đẩy các công nghệ nội sinh ra khỏi cánh cửa phòng thí nghiệm là một trong những cách thức tốt nhất, bền vững nhất. |
Khi không là chủ sở hữu, nhà khoa học không có quyền bán, chuyển nhượng hay góp vốn mở công ty spinoff. Đó là lẽ đương nhiên.
Trên thực tế, đã có rất nhiều nhà khoa học rơi vào tình thế này. Họ đành ngậm ngùi nộp báo cáo, nộp sản phẩm mẫu (nếu có) cho nhà nước, giữ lại know-how trong đầu và buộc phải hứng chịu cái nhìn khắt khe của xã hội là chỉ giỏi làm ra sản phẩm đút ngăn kéo, cất trong tủ mà không có ứng dụng thực tiễn nào. Nhà khoa học, sau khi phải vượt rất nhiều ràng buộc quy định về tài chính, đã tiếp tục nhận thêm "búa rìu" dư luận. Nói một cách hài hước thì họ không chỉ không được "miếng" (thu nhập có thể có từ chuyển giao công nghệ) mà còn không có cả "tiếng" (sự tưởng thưởng của xã hội). Know-how chỉ tồn tại trong đầu họ hoặc trong cộng đồng khoa học họ tham gia mà không trở thành tri thức của xã hội. Ngân sách nhà nước tài trợ cho khoa học, vì thế, không thể tạo ra được nguồn thu nào.
Dĩ nhiên, vướng mắc nhiều nhất mà KH&CN Việt Nam gặp phải chính là với các công nghệ sinh ra từ các dự án có kinh phí từ ngân sách nhà nước. Điều này cũng phản ánh một thực tế là hầu hết các dự án, đề tài ở Việt Nam đều được triển khai dựa trên toàn bộ hoặc một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước.
Và một hệ lụy là những văn bản quy định sau đó, đặc biệt là Nghị định 70/2018 quy định việc quản lý, sử dụng tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng vốn nhà nước, đều đặt chốt chặn dòng chảy công nghệ này khi ấn định: tài sản hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ ngân sách cấp là tài sản công. Việc quản lý, sử dụng thực hiện theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
Năm 2022, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi đã chủ động trao quyền vừa phù hợp với quan điểm quốc tế, vừa phù hợp với tinh thần khoa học, mở ra cơ hội giải phóng tri thức khỏi trường, viện để nó có thể đến được với xã hội. Ví dụ, luật cho phép tổ chức chủ trì đón nhận quyền sở hữu một cách tự động và không bồi hoàn đối với kết quả của nhiệm vụ KH&CN sử dụng toàn bộ hoặc một phần ngân sách nhà nước, nhà nước chỉ can thiệp khi tổ chức chủ trì không có động thái phù hợp với tài sản mới này như không đăng ký sáng chế, không sử dụng có hiệu quả... Rõ ràng, những quy định này phản ánh đúng nhận xét mà một tác giả sáng chế, chủ doanh nghiệp như TS. Nguyễn Thanh Mỹ (My Lan Group) thu được qua quá trình ông quan sát hoạt động R&D trong các trường, viện ở Việt Nam "Nhà nước nên cho các thầy được phép thuê lại sáng chế hoặc công nghệ mà các thầy tạo ra từ đề tài có ngân sách nhà nước. Như vậy, các thầy có thể làm lớn chứ không còn làm lén nữa".
Đối với tài sản trí tuệ, chủ sở hữu và việc xác lập quyền sở hữu đã được quy định trong pháp luật về sở hữu trí tuệ nhưng hiện chưa có quy định đối với công nghệ không phải là tài sản trí tuệ (do chưa đáp ứng điều kiện để được bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc chủ sở hữu muốn giữ bí mật, không đăng ký để bảo hộ sở hữu trí tuệ), điều này dẫn đến những rủi ro trong chuyển giao công nghệ đối tượng này. |
Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ lại không thể ‘làm hộ, làm hết’ phần công việc của Luật Chuyển giao công nghệ. Có những phần trong hoạt động KH&CN rất rộng mà Luật Sở hữu trí tuệ không thể bao quát hết.Trong dự thảo tờ trình dự thảo Luật Chuyển giao công nghệ, Ban soạn thảo đã nêu "Luật hiện hành quy định chủ sở hữu công nghệ có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển giao quyền sử dụng công nghệ (Điều 7. Quyền CGCN) nhưng chưa có định nghĩa ‘chủ sở hữu công nghệ’. Đối với tài sản trí tuệ, chủ sở hữu và việc xác lập quyền sở hữu đã được quy định trong pháp luật về sở hữu trí tuệ nhưng hiện chưa có quy định đối với công nghệ không phải là tài sản trí tuệ (do chưa đáp ứng điều kiện để được bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc chủ sở hữu muốn giữ bí mật, không đăng ký để bảo hộ sở hữu trí tuệ), điều này dẫn đến những rủi ro trong chuyển giao công nghệ đối tượng này".
Vậy đây chính là điểm Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi cần tháo gỡ và khi tháo gỡ được nút thắt quyền sở hữu có thể sẽ tạo ra một bước đột phá trong khung pháp chế quy định các hoạt động chuyển giao công nghệ. "Điểm cốt lõi là phải tạo ra cơ chế cho các hoạt động chuyển giao", TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN trong một cuộc trao đổi vào năm 2023, nhận xét. "Để làm được việc ấy, cần giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu cho cơ quan chủ trì bởi nếu là quyền sở hữu của nhà nước thì không ai dám bán, dám chuyển giao cả. Nhà nước bỏ tiền ra, chủ sở hữu là nhà nước, thì ai dám bán cho doanh nghiệp? Không thể bán tài sản công được. Việc đầu tiên nhà nước có thể làm là giao quyền sở hữu cho cơ quan chủ trì nhiệm vụ. Có sở hữu rồi mới bán được vì không ai có thể bán cái mà người khác sở hữu".
![]() |
Giới thiệu sản phẩm của Tổng công ty Viglacera - CTCP tại sự kiện "Kết nối công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 2024". |
Muốn câu chuyện chuyển giao công nghệ từ trường, viện diễn ra thông đồng bén giọt thì nó cũng cần phải được giải quyết một cách căn cơ gốc rễ ở những nơi khác, điểm khác: Hoàn thiện thị trường KH&CN; tăng hiệu quả của các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào R&D như miễn giảm thuế nếu lập quỹ KH&CN tại doanh nghiệp, khuyến khích đầu tư cho công nghệ mới, công nghệ xanh, mở các chương trình phát triển công nghệ hợp tác công tư, khuyến khích nhà khoa học tới doanh nghiệp trao đổi để tăng năng lực hấp thụ công nghệ; các chính sách bảo hộ tài sản trí tuệ trên thị trường... Thậm chí, những thượng nguồn nảy sinh công nghệ cũng cần được đối xử một cách công bằng: chú trọng đầu tư cho khoa học cơ bản; tạo dựng môi trường nghiên cứu khoa học minh bạch, công khai, liêm chính; tạo dựng những khung khổ quy định về tự chủ, chấp nhận rủi ro trong khoa học, tài chính khoa học... phản ánh một cách đúng đắn bản chất của khoa học nhằm phát triển và tôn vinh nhà khoa học, tổ chức KH&CN. |
Có vẻ như điều này sẽ hứa hẹn được giải tỏa, khi ngay trong dự thảo tờ trình dự thảo Luật Chuyển giao công nghệ, Ban soạn thảo đã xác định nội dung trọng tâm trong thúc đẩy công nghệ nội sinh là sẽ bổ sung "thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ" và sửa đổi quy định khi công nhận "chủ sở hữu công nghệ".
Nếu dự luật mới được thông qua ngay vào kỳ họp Quốc hội này thì có thể nói, phải mất gần một thập kỷ, Việt Nam mới đi đến được chỗ công nhận quyền sở hữu kết quả nghiên cứu của tổ chức và cá nhân nhà khoa học, sau sự mở đường của quan điểm mới từ bộ tứ nghị quyết, trong đó có Nghị quyết 57 và Nghị quyết 68.
Định giá, góp vốn và chuyển giao trên thị trường công nghệ
Có một thực tế là dù đã tiến được một bước quan trọng với việc công nhận quyền sở hữu công nghệ thì đấy mới chỉ là một trong số những chốt chặn án ngữ trên đường chuyển giao của công nghệ nội sinh. Để hoàn thành được chặng cuối, công nghệ mới vẫn còn phải vượt qua vô số rào cản nữa, chủ yếu liên quan đến thị trường KH&CN, bao gồm các yếu tố như định giá, bảo vệ tài sản trí tuệ, chiến lược thương mại hóa, sự sẵn sàng của thị trường..., theo nhận định từ Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO).
Tuy nhiên, định giá tài sản trí tuệ là một việc khó. Đây là lý do mà Thông tư 10/2019/TT-BTC hướng dẫn việc xác định giá trị tài sản là kết quả của nhiệm vụ KH&CN sử dụng vốn nhà nước được xây dựng. Có lẽ, những người soạn thảo Thông tư 10 đã không hình dung được là cả bốn phương pháp xác định giá dựa trên kinh phí đầu tư, theo cách tiếp cận từ chi phí, theo cách tiếp cận từ thị trường và theo cách tiếp cận từ thu nhập đều không triển khai được trên thực tế.
Trong một cuộc họp xây dựng nghị định thay thế Nghị định 70 vào tháng 6/2024, ông Nguyễn Nam Hải, khi đó là Vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính (Bộ KH&CN), đánh giá vướng mắc về định giá là vướng mắc rất cơ bản. "Việc định giá này chúng ta cũng nói nhiều rồi, mà quan trọng nhất của câu chuyện là phương pháp định giá. Quy định ở Nghị định 70 và từ Nghị định 70 dẫn chiếu đến Thông tư số 10 nó tiềm ẩn rủi ro cho người làm và nó cũng không rõ ràng. Chúng ta đều nhớ có bốn phương pháp định giá tài sản, mà cũng nói là theo tùy ý, thích dùng phương pháp nào thì dùng, nhưng khi đem ra vận dụng, nó cũng tạo ra những biến số khác nhau, ra những kết quả khác nhau".
Cái khó định giá tài sản trí tuệ trước hết là do các công nghệ vẫn ở giai đoạn đầu nên bất kỳ dự đoán nào về lợi ích trong tương lai đều cực kỳ rủi ro, rất khó để xác định các lĩnh vực ứng dụng tiềm năng và do đó xác định thị trường phù hợp để khai thác công nghệ.a Một yếu tố cản trở khác là việc thiếu các chuyên gia sở hữu trí tuệ có kỹ năng phù hợp để thực hiện định giá sở hữu trí tuệ. |
Ông cũng phân tích lý do vì sao nó lại dễ gây ra rủi ro "Nếu chúng ta định giá ra thứ trên trời thì chắc chắn là bên nhận người ta cũng không mong muốn nhận tài sản với giá trị như thế; nhưng nếu chúng ta định giá thấp thì chúng ta lại lo lắng là một ngày nào đó, thậm chí có thể 5-10 năm sau, có người quay lại hỏi ‘Tại sao thời điểm cậu lại định giá tài sản đấy nó thấp thế, để bây giờ đơn vị đấy phát huy, thương mại hóa, thu được nhiều tiền thế’".
Có lẽ, các nhà quản lý cũng mong muốn, Luật Chuyển giao công nghệ mới sẽ có thể gợi ý được đường hướng cho những văn bản quy phạm khác như nghị định và thông tư hướng dẫn cách thức định giá tài sản được tốt nhất. "Tôi cũng mong muốn chúng ta làm sao lựa chọn một phương pháp định giá tài sản duy nhất, không bắt mọi người phải đứng trước rủi ro pháp lý về chuyện là tại sao chọn phương án A mà không chọn phương án B?", ông Nguyễn Nam Hải chia sẻ góc nhìn của mình. "Bây giờ tốt nhất là nhà nước quy định có một phương pháp thế thôi, làm đúng theo phương pháp như thế, và phương pháp đấy làm sao phải đơn giản và cũng làm giảm thiểu nguy cơ cho hệ thống liên quan đến công tác về tài sản, từ các hội đồng các thầy, các vụ quản lý chức năng".
WIPO cũng thừa nhận, cái khó định giá tài sản trí tuệ trước hết là do các công nghệ vẫn ở giai đoạn đầu nên bất kỳ dự đoán nào về lợi ích trong tương lai đều cực kỳ rủi ro, rất khó để xác định các lĩnh vực ứng dụng tiềm năng và do đó xác định thị trường phù hợp để khai thác công nghệ. Một yếu tố cản trở khác là việc thiếu các chuyên gia sở hữu trí tuệ có kỹ năng phù hợp để thực hiện định giá sở hữu trí tuệ.
Với những người đã chứng kiến rất nhiều đổi thay trong hoạt động KH&CN cũng như tham khảo nhiều mô hình quốc tế trong chuyển giao công nghệ như TS. Nguyễn Quân, ông cho rằng có một lối thoát là dựa vào thị trường KH&CN. "Ở nước ngoài, người ta có hệ thống định giá hết sức uy tín. Tại sao họ lại định giá được là Microsoft là từng này tỉ USD trong khi tất cả tài sản gộp lại chỉ chiếm 10%, 90% còn lại là thương hiệu? Và thương hiệu phải có người định giá. Ở Việt Nam, không có người làm việc đó, không có ai có kinh nghiệm được giao làm nhiệm vụ đó, trong khi không định giá được thì không giao được quyền sở hữu", ông phân tích.
Câu chuyện định giá công nghệ còn liên quan đến một nội dung quan trọng đối với nhà nghiên cứu, đó là góp vốn bằng công nghệ. Đây là việc không mới trên thế giới, bởi các nhà nghiên cứu quốc tế khi có công nghệ hứa hẹn đem lại các sản phẩm đột phá sẽ thường sử dụng nó như một thứ của nả quan trọng để đi gọi đầu tư từ thị trường vốn. Nói một cách nôm na, một công ty spinoff sẽ ra đời trên cơ sở người đóng góp công nghệ, người đóng góp vốn. Để việc này trở nên thuận lợi, cần định giá được sự đóng góp của tài sản vô hình là công nghệ, và giá trị của công nghệ được xác nhận một cách chính xác thông qua thẩm định, phản ánh đúng phần đóng góp của nhà khoa học. Một khi đã góp vốn bằng công nghệ thì công nghệ đó trở thành tài sản của công ty và nhà khoa học trao quyền sử dụng và sở hữu công nghệ cho công ty.
Tất cả những điều này thật mới lạ với nhà khoa học cũng như các nhà quản lý. Vì vậy, trong hội thảo lấy ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, diễn ra vào ngày 23/9/2025 do Ủy ban KH&CN, môi trường của Quốc hội và Bộ KH&CN phối hợp tổ chức, nhiều đại biểu bày tỏ sự quan tâm với khái niệm góp vốn bằng công nghệ. Họ cho rằng, dù luật khuyến khích nhưng thực tế lại chưa có hành lang pháp lý cụ thể về thẩm định giá công nghệ khi góp vốn, dẫn đến tính khả thi không cao.
Điều này là một thực tế mà Công ty Luật HM&P đã ghi nhận. "Việc định giá công nghệ tại Việt Nam vẫn thiếu hướng dẫn cụ thể, chưa có chuẩn mực thống nhất, dữ liệu thị trường về sáng chế, công nghệ còn chưa đầy đủ, dẫn đến việc định giá chủ yếu mang tính ước lượng... Một khó khăn nữa là thiếu các tổ chức định giá uy tín và dữ liệu tham khảo. Dịch vụ định giá công nghệ tại Việt Nam hiện đang trong giai đoạn trứng nước, chưa chuyên nghiệp và chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội", họ nêu trong một bài phân tích trên website của mình.
Đây cũng là lý do dẫn đến nỗi e ngại nhiều năm qua của các nhà quản lý KH&CN: giá công nghệ bị thổi phồng, hoặc định giá quá thấp khiến cho không chuyển giao được, "đề tài cất ngăn kéo", hoặc nguy cơ làm thất thoát tài sản của nhà nước. Mặt khác, trong môi trường kinh doanh, khi công nghệ bị đánh giá quá thấp, nhà khoa học sẽ bị thua thiệt dù bỏ rất nhiều công sức còn khi công nghệ được đánh giá quá mức thì người góp vốn cũng bị thua thiệt. Khi năng lực định giá công nghệ hạn chế thì các bên góp vốn dễ rơi vào tranh chấp sau này liên quan đến giá trị thực của công nghệ.
Điều này rất dễ xảy ra. Bởi "chưa có hướng dẫn chi tiết từ các cơ quan chức năng về quy trình và chi phí định giá công nghệ; các tiêu chuẩn định giá quốc tế cũng chưa được áp dụng đầy đủ. Hệ thống cơ sở dữ liệu về sáng chế và công nghệ tương tự còn thiếu và khó tiếp cận" nên Công ty Luật HM&P nhận định "ngay cả khi thuê tổ chức định giá, kết quả có thể không chính xác và gây tranh cãi".
Những điều này vừa thiếu lại vừa yếu trong một thị trường KH&CN sơ khai ở Việt Nam. Trong hội nghị "Phát triển thị trường KH&CN đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập" do Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì vào tháng 9/2022, đại diện của UBND thành phố Hà Nội đánh giá "việc phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng vẫn còn hạn chế. Thị trường KH&CN của thủ đô còn manh mún, chưa hội tụ đầy đủ các yếu tố của thị trường, hiệu quả chưa cao; vai trò của các tổ chức trung gian, tư vấn chuyển giao công nghệ còn mờ nhạt, nhất là các tổ chức có chức năng đánh giá, định giá công nghệ, xúc tiến và môi chuyển giao công nghệ".
Đây là lý do mà TS. Nguyễn Quân, trong cuộc trao đổi vào năm 2023, đã lưu ý "thị trường KH&CN hiện nay của mình nó thiếu hẳn, đứt đoạn hẳn khâu các định chế trung gian hỗ trợ thị trường KH&CN. Anh định giá không có, anh đánh giá không có, anh kiểm nghiệm, tư vấn, đào tạo cho thị trường KH&CN... còn thiếu rất nhiều. Cả nước bây giờ chỉ có mấy ông làm giám định thôi trong khi chúng ta có hàng triệu doanh nghiệp".
Phát triển thị trường KH&CN quả thật là vấn đề hoàn toàn khác biệt so với những gì diễn ra trong môi trường KH&CN mà Việt Nam đang quản lý và vẫn còn đang lúng túng giữa hàng loạt khung khổ quy định do chính mình dựng lên. "Trong kinh tế thị trường thì phát triển thị trường là cái khó nhất. Chúng ta phải bàn thị trường KH&CN như một yếu tố nền tảng của nền kinh tế thị trường, chứ không phải chỉ là chuyện của một ngành, một lĩnh vực cụ thể", PGS. TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam (Viện Hàn lâm KHXHVN) trao đổi tại hội nghị. "Ít nhất trong vòng 30-40 năm nay, câu chuyện phát triển đồng bộ hệ thống thị trường như thị trường bất động sản, tiền tệ... khó như thế nào thì chúng ta đã biết. Từ đó, để biết rằng thị trường KH&CN, một thị trường liên quan đến sản phẩm trí tuệ còn khó hơn rất nhiều".
Tất cả điều đó cho thấy, muốn khai thác tri thức và xây dựng nền kinh tế tri thức với những bước đầu tiên là thúc đẩy chuyển giao công nghệ nội sinh từ các trường, viện, Việt Nam còn phải đi qua một chặng đường rất dài và chông gai nữa, nếu như nhìn vào quãng thời gian loay hoay gần 10 năm để chấp nhận và giao quyền sở hữu công nghệ. Tuy nhiên, tất cả những điều tốt đẹp cũng phải nếm mùi chông gai và ước mơ của những người làm việc trong môi trường KH&CN đôi khi cũng chỉ ‘đơn giản’ là "Khi nói đến việc sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ, [chúng tôi mong là] cần có quy định về cơ chế định giá, cơ chế giao quyền sở hữu, cơ chế phân chia lợi ích cho chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ để các nhà khoa học có thể chuyển sang thương mại hóa và kinh doanh", như chia sẻ của TS. Nguyễn Quân.
Còn ước mơ của nhà khoa học? PGS. TS Trần Quốc Bình, Phó Hiệu trưởng trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN), trong phát biểu tại hội nghị lấy ý kiến nhà khoa học về việc sửa đổi Nghị định 70 vào tháng 12/2023, đã nói hộ các đồng nghiệp của mình, khi mong mỏi các nhà quản lý tham khảo và chấp nhận những điều đã tồn tại ở các nền khoa học tiên tiến, nơi các công ty spinoff mà các nhà khoa học tạo nên đã làm thay đổi cả nền tảng công nghệ của một lĩnh vực, như điều đã xảy ra với công nghệ vaccine mRNA. "Nếu chúng ta xác định khoản ngân sách cho các đề tài như một khoản tài trợ thì chúng ta không phải làm gì cả. Và nền kinh tế sẽ được hưởng lợi từ đó, không phải lo nó thất thoát đi đâu cả, mà nếu có thất thoát thì nó cũng nhỏ. Nếu nó đem lại được cho cá nhân thì cũng đáng mừng bởi vì nó chứng tỏ giá trị của nó rất cao để người ta tìm cách để cho nó thất thoát. Và chúng ta đang ở trong giai đoạn khởi đầu, mọi thứ rất là sơ khai thì chúng ta chấp nhận một sự hỗn độn nhất định để chấp nhận thúc đẩy quá trình đưa kết quả KH&CN đưa vào ứng dụng trong thực tiễn. Sau này nó tương đối ổn định rồi thì chúng ta có thể siết chặt việc đó, giống như Trung Quốc đã làm vậy".
Bài đăng KH&PT số 1368 (số 44/2025)
Thanh Nhàn

