Mai vàng Huế từ lâu đã trở thành biểu tượng văn hóa của đất cố đô, hiện diện trong cung đình, phủ đệ, sân chùa, làng xóm và trong ký ức của người dân xứ Huế mỗi độ xuân về. Dáng hoa thanh thoát, năm cánh vàng đậm, hương thơm dịu nhẹ và dáng thế uyển chuyển đã làm nên phẩm chất riêng biệt của hoàng mai Huế.
Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, khai thác tự phát và thiếu nghiên cứu bảo tồn bài bản, khiến số lượng và chất lượng giống mai này suy giảm đáng kể. Nhiều cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi bị bán ra ngoài tỉnh, hoặc chết do chăm sóc không phù hợp, trong khi nhu cầu sử dụng mai Huế ngày càng lớn. Những thách thức đó đặt ra yêu cầu cấp thiết, phải bảo tồn quỹ gen, đồng thời tuyển chọn, cải thiện, nhân rộng và phát triển các dòng mai có giá trị kinh tế và sinh thái cao.
Từ thực tiễn đó, Sở KH&CN TP Huế đã giao Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hoa, cây cảnh chủ trì thực hiện đề tài "Nghiên cứu bảo tồn và phát triển giống mai vàng Huế (Hoàng mai Huế)".
Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra thực địa, thống kê diện tích trồng, phân bố quần thể và hình thức canh tác. Các mẫu mai được thu thập tại nhiều khu vực như Long Hồ, Ngọc Hồ, Ngũ Tây, Thừa Lưu, Truồi, Phú Thượng và các vùng ven sông Hương. Trên cơ sở số liệu thu thập được, nhóm xây dựng bản đồ số hóa phân bố giống và đánh giá hiệu quả kinh tế so sánh với các loại cây trồng khác.
Kết quả cho thấy mai vàng Huế có hiệu quả sản xuất cao hơn từ 52–75% so với nhiều cây trồng khác, vượt trội cả về giá trị thương mại lẫn khả năng thích nghi sinh thái. Trong đó, hiệu quả sản xuất mai vàng Huế cao gấp 1,13-2,75 lần so với hoa cúc và 2,51-3,89 lần so với cây lúa.
Ngoài ra, nhóm thực hiện việc phân tích di truyền bằng kỹ thuật multiplex PCR, sử dụng các chỉ thị phân tử SR10, SR11 để nhận diện giống Hoàng mai Huế. Từ đặc điểm hình thái và sinh thái kết hợp chỉ thị di truyền, nhóm xây dựng bộ chỉ số giúp phân biệt chính xác giống bản địa và hướng dẫn bảo tồn phù hợp với điều kiện địa phương.
Nhằm đưa vào diện lưu giữ nguồn gen, đồng thời xác định các cây đầu dòng chất lượng phục vụ nhân giống thương mại, nhóm tuyển chọn các cây có tuổi đời trên 50 năm và nghiên cứu, thử nghiệm những quy trình nhân giống bằng gieo hạt, giâm cành, chiết cành và nuôi cấy mô. Một trăm cây mai trên 50 năm tuổi cũng được đưa vào hệ thống bảo tồn bằng mã QR truy xuất nguồn gốc kết hợp phần mềm quản lý.
![]() |
Hiệu quả trồng mai vàng Huế cao hơn một số cây khác. Ảnh: NNC |
Đặc biệt, mô hình nhân giống quy mô 2.000 cây và mô hình trồng chăm sóc 1 ha thuộc phạm vi Đề tài cho tỷ lệ sống cao (trên 90%), sinh trưởng ổn định, hiệu quả kinh tế tăng từ 22–25% so với kỹ thuật thông thường mà người dân đang áp dụng theo kinh nghiệm.
Nhóm cũng hoàn thiện các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật và kế hoạch phát triển nguồn giống, giúp cộng đồng sản xuất dễ dàng áp dụng.
Những kết quả này không chỉ đóng góp cơ sở khoa học cho việc nhận diện, bảo tồn và phát triển nguồn gen, mà còn mở ra triển vọng đưa Hoàng mai Huế trở thành cây trồng đặc trưng trong du lịch, cảnh quan đô thị và sinh kế bền vững.
Đề tài đã được Sở KH&CN TP Huế nghiệm thu, kết quả đạt yêu cầu.
Bài đăng KH&PT số 1367 (số 43/2025)
Thạch Thảo
