Nỏ thần của An Dương Vương có lẽ là vũ khí nổi tiếng nhất trong ký ức lịch sử của người Việt. Truyền thuyết kể rằng chỉ một lần kéo lẫy, cây nỏ có thể bắn ra hàng loạt mũi tên, giúp nước Âu Lạc (kết thúc khoảng năm 179 TCN) nhiều lần đẩy lùi quân xâm lược. Và khi khảo cổ học khai quật những lẫy nỏ bằng đồng tinh xảo của văn hóa Đông Sơn, ranh giới giữa huyền thoại và lịch sử dường như trở nên gần nhau hơn.
Về sau, còn có cung Giao Chỉ - một thứ vũ khí lạnh tầm xa khác - được sử sách Trung Hoa ca ngợi là "tốt nhất thiên hạ", thậm chí trở thành vật ban thưởng dành cho các khai quốc công thần nhà Minh.
Những hiện vật còn lại cho thấy, cha ông ta từ rất sớm đã chế tác được các loại vũ khí có kết cấu kỹ thuật phức tạp và độ tinh xảo cao.
Mô hình phục dựng nỏ Liên Châu do vị tướng quân tài ba Cao Lỗ chế tạo dưới thời Thục Phán An Dương Vương, hiện đặt tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam.
"Bộ cò súng" của người Đông Sơn
Khảo cổ học đã xác nhận sự tồn tại của nỏ thời An Dương Vương qua các lẫy nỏ và hàng nghìn mũi tên đồng được phát hiện tại Cổ Loa (xã Đông Anh, Hà Nội) và Làng Vạc (phường Thái Hòa, tỉnh Nghệ An), với niên đại khoảng 2.500-2.000 năm trước [1].
Mỗi bộ lẫy thực chất là một cơ cấu cơ khí phức tạp, có thể ví như bộ cò của súng trường hiện đại về nguyên lý vận hành. Dù chỉ gói gọn trong lòng bàn tay, lẫy nỏ Đông Sơn được đúc với độ chính xác rất cao. Các chi tiết như trục xoay, móc giữ dây và lẫy nhả đều ăn khớp nhịp nhàng, bảo đảm cơ cấu hoạt động ổn định.
Để tạo nên những chi tiết như vậy, người Đông Sơn không chỉ làm chủ kỹ thuật luyện và đúc hợp kim đồng, mà còn sở hữu tư duy cơ khí đủ để thiết kế các bộ phận phối hợp với nhau một cách chính xác. Đây rõ ràng là kết quả của quá trình tích lũy kinh nghiệm và cải tiến lâu dài, chứ không phải một phát minh ngẫu nhiên.
Quan trọng hơn, những bộ lẫy này không phải đồ tùy táng hay vật phẩm nghi lễ, mà là thành phần của vũ khí dùng trong chiến đấu. Có thể nói, nỏ là một trong những phát minh quan trọng của lịch sử quân sự Việt, tạo nên bước nhảy vọt so với cung tên truyền thống.
Lẫy nỏ bằng đồng có niên đại 500 TCN, thuộc nền văn hóa Đông Sơn, hiện được trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Ảnh: Bình Nguyễn / Wikimedia Commons
Nếu như người dùng cung phải kéo dây, ngắm và bắn trong cùng một động tác liên tục thì nỏ, nhờ có cơ cấu lẫy giữ dây, cho phép lên dây từ trước rồi mới ngắm bắn khi có thời cơ. Điều này không chỉ tăng độ chính xác mà còn tạo ra lực cánh cung lớn hơn, trong khi người bắn không phải liên tục gồng sức giữ dây.
So với cung, nỏ có thể bắn từ tư thế ngồi, nằm hoặc sau vật che chắn, mang lại ưu thế rõ rệt trong chiến đấu phòng ngự và phục kích.
Nỏ của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số Việt Nam hiện nay sử dụng cơ cấu lẫy đơn giản, dây cung được giữ bằng rãnh khoét trên báng gỗ nên chỉ chịu được lực kéo vừa phải. Trong khi đó, nỏ Đông Sơn được trang bị lẫy bằng đồng có độ bền và khả năng chịu lực cao, giúp giữ dây chắc chắn, làm tăng đáng kể sức mạnh của cánh cung mà không làm hư hại thân nỏ. Đây là một cải tiến kỹ thuật rất đáng chú ý.
Sự ra đời của lẫy nỏ còn phản ánh bước phát triển mới trong tư duy cơ khí, khi con người lần đầu ứng dụng một cơ cấu máy vào vũ khí cá nhân. Lẫy nỏ cũng là tiền đề cho sự xuất hiện của các loại máy bắn tên và máy bắn đá trong những giai đoạn sau. Đáng chú ý, các lẫy nỏ Đông Sơn có nhiều kích thước khác nhau, gợi ý rằng bên cạnh nỏ cá nhân, người Việt cổ có thể đã chế tạo cả những cỗ nỏ cỡ lớn cần nhiều người cùng vận hành.
Nỏ xuất hiện ở Trung Quốc và Hy Lạp khoảng 2.500 năm trước. Việc tìm thấy nhiều lẫy nỏ trong các di chỉ văn hóa Đông Sơn (khoảng 2.700-1.800 năm trước) chỉ ra rằng cư dân Việt cổ có thể đã sớm tiếp thu và phát triển một trong những công nghệ quân sự tiên tiến nhất của thời đại.
Hàng nghìn mũi tên đồng được tìm thấy ở di tích thành Cổ Loa, hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam. Ảnh: Gary Todd / Flickr / Public Domain
Những mũi tên không dành cho thú săn
Nếu lẫy nỏ cho thấy trình độ cơ khí, thì đầu mũi tên lại phản ánh rất rõ mục đích sử dụng của loại vũ khí này.
Ngay từ thời Đông Sơn đã xuất hiện những mũi tên chuyên để xuyên thủng áo giáp. Tại di chỉ khảo cổ Vườn Chuối (xã Hoài Đức, Hà Nội), các nhà khảo cổ tìm thấy những đầu mũi tên bằng đồng có hình dáng như cái đục hoặc mũi kim, tiết diện rất nhỏ nhưng thuôn dài, dài tới 6 cm và nặng khoảng 20-24 gram [2].
Để so sánh, chúng tôi đã đo đạc các mũi tên của các tuyển thủ Olympic ngày nay, và thấy mỗi cây tên thường có khối lượng từ 20-30 gram. Như vậy, chỉ riêng phần mũi đồng của tên đánh trận thời Đông Sơn đã nặng bằng cả cây tên thể thao hiện đại.
Không giống những mũi tên có cạnh sắc và bản rộng để cứa cắt, các mũi tên này tập trung lực vào một điểm rất nhỏ, đồng thời tận dụng khối lượng lớn để tăng động năng. Tất cả được thiết kế cho mục đích xuyên phá các bề mặt cứng thay vì cắt. Điều này thực sự hữu hiệu trong chiến tranh tầm xa.
Rõ ràng, các hiện vật về mũi tên và lẫy nỏ cho thấy cha ông đã trang bị cho quân đội những vũ khí chế tạo chuyên biệt cho chiến đấu, chứ không đơn thuần là tận dụng công cụ lao động khi có chiến sự.
Đầu mũi tên chuyên xuyên áo giáp thời Đông Sơn ở di chỉ Vườn Chuối, nay được trưng bày ở Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Văn Hiệu
Người Việt cũng chế tạo cung phức hợp
Một ngộ nhận khá phổ biến hiện nay là cho rằng người Mông Cổ dưới thời Thành Cát Tư Hãn (1206–1227) đã phát minh ra cung phức hợp (composite bow) bằng gỗ, sừng và gân động vật.
Thực tế, đây là công nghệ quân sự xuất hiện từ rất lâu trước khi Đế quốc Mông Cổ ra đời. Những chiếc cung phức hợp đã được sử dụng tại vùng thảo nguyên Á – Âu, Cận Đông và Trung Á từ thiên niên kỷ II trước Công nguyên, sau đó được nhiều nền văn minh tiếp thu và cải tiến.
Cung Việt Nam xưa cũng thuộc nhóm cung phức hợp này. Sử liệu gọi đó là "giác cung" (角弓, cung sừng). Mặt trong cung là lớp sừng trâu và lớp ngoài là gỗ. Cung sừng kết hợp sức chịu nén của sừng trâu và sức chịu dãn của gỗ để có thể tạo ra cánh cung vừa gọn, vừa uy lực.
Cung sừng phức hợp thường ngắn hơn cung đơn chất tre/ gỗ vì cấu tạo nhiều lớp (gỗ, sừng ở bụng cung, gân ở lưng cung) của cung phức hợp giúp tích trữ và giải phóng năng lượng đàn hồi hiệu quả hơn. Nhờ chịu được lực nén và lực kéo lớn, cung không cần làm quá dài để đạt lực bắn mạnh. Ngược lại, cung đơn chất bằng tre hoặc gỗ phải tăng chiều dài để tạo đủ độ đàn hồi và tránh gãy khi kéo hết cữ.
Cảnh cưỡi ngựa bắn cung trong thi Võ Cử ở đình Đông Viên (Nghệ An). Ảnh: Nguyễn Văn Hiệu
Chu Khứ Phi (khoảng 1135 - khoảng 1189) thời Tống khen ngợi rằng cung nỏ Giao Chỉ (tên người Tống gọi nước ta) làm từ gỗ Tư Lũy 思櫑木 (tức Táu, Sao) là tốt nhất thiên hạ: "Gỗ Tư Lũy sinh ở châu động Lưỡng Giang, cứng, cho vào nước hàng trăm năm không mục, dân động và Giao Chỉ lấy chế cung nỏ, tiêu thương (lao ném), là tốt nhất thiên hạ." [3]
Năm 1371, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương triệu các khai quốc công thần, ban mỗi người 50 cây cung Giao Chỉ: "Ất Sửu, triệu Ngụy Quốc Công Từ Đạt, Tào Quốc công Lý Văn Trung, Tống quốc công Phùng Thắng lên, ban mỗi người năm mươi cung Giao Chỉ, một trăm cung sơn son, nhân đó nói: chư hầu thời xưa có công lao dẹp tứ di ắt được thưởng cung tên, bọn khanh khoe uy bốn phương sáng rõ, công lao vốn có từ trước, nên thưởng đó." [4]
Từ lời khen của Chu Khứ Phi đến việc Minh Thái Tổ dùng cung Giao Chỉ làm vật ban thưởng cho các khai quốc công thần, có thể thấy danh tiếng của loại vũ khí này đã vượt ra ngoài biên giới Đại Việt, tới mức được một đế quốc mạnh về cung tên như Trung Hoa thừa nhận. Ngoài ra, việc vua ban cho các công thần cung Giao Chỉ cũng gợi ý cho chúng ta rằng cung Việt được tạo tác lộng lẫy chứ không mộc mạc sơ sài.
Nhà nghiên cứu Dương Việt Dũng đã phân tích các tài liệu như "Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí", "Lê Triều Hội Điển" để chỉ ra rằng từng tồn tại một vùng sản xuất cung sừng đáng kể ở Thăng Long- Hà Nội thời Lê và đầu thời Nguyễn [5].
Thời hoàng kim trước khi xuất hiện vũ khí nóng
Trước khi thuốc súng xuất hiện, cung và nỏ là vũ khí tầm xa hiệu quả nhất của quân đội Đại Việt. Chúng cho phép quân lính tiêu diệt hoặc làm rối loạn đội hình đối phương từ khoảng cách hàng chục đến hàng trăm mét, trước khi đối phương có thể cận chiến bằng giáo, kiếm hay rìu....
Vai trò của cung tên trong chiến tranh thời cổ lớn đến mức, áng hùng văn Dụ chư tỳ tướng hịch văn của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn có một đoạn kêu gọi binh sĩ phải chăm tập luyện cung tên (弓矢): "Hãy huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, để có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, phơi xác Vân Nam Vương ở Cảo Nhai." [6]'
Cung tên đóng vai trò lớn trong chiến tranh thời cổ.
Uy lực của cung nỏ người Việt từ sớm đã được tướng Hán là Mã Viện chú ý. Ông ta ca ngợi trong một tấu chương: "Theo Mê Linh họp ở Bôn Cổ, tiến đánh Ích Châu, thần chỉ huy hơn một vạn người Lạc Việt, quen tập chiến đấu trên hai ngàn, cung hiểm tên bén, đồng loạt bắn, tên trút như mưa, kẻ nào trúng tên chết ngay." [7]
Về tầm chiến đấu, chúng ta có thể suy đoán dựa trên quy chế thi bắn bộ xạ (bắn cung trên bộ) được ghi chép trong Lê triều tạo sĩ đăng khoa lục: "Bộ xạ: từ mặt bia bắn đến đường bộ cung dài 105 thước (~ 37m)... Kỵ xạ (bắn cung trên ngựa): từ mặt bia bắn đến đường cung ngựa dài 75 thước (~26m)" [8]
Như vậy trên chiến trường, tầm chiến đấu hiệu quả tối đa của cung thủ trên bộ có lẽ vào khoảng dưới 40m. Với cung thủ cưỡi ngựa, tầm hiệu quả ngắn hơn, chỉ dưới 26m vì còn phải bù trừ cho tốc độ phi của ngựa (khiến độ chính xác giảm sút) và bộ tấn không được vững chắc như khi đứng dưới đất.
Một trong hai cây cung Đại Việt thế kỷ 17 trong bộ sưu tầm của đô đốc thủy quân Cornelis Tromp tại Bảo tàng Rijksmuseum.
Dẫu lợi hại, cung nỏ vẫn không vượt qua được giới hạn của sức mạnh cơ bắp. Trong nhiều trường hợp, các loại giáp trụ có thể vô hiệu hóa hoàn toàn các mũi tên. Trong cuộc chiến với Nam Chiếu năm 863 ở An Nam, tướng nhà Đường Sái Tập "người trúng mười mũi tên nhưng vẫn có thể cố sức đánh" [9]. Hoặc trong cuộc chiến với Mông Cổ năm 1258, tướng Lê Phụ Trần chỉ với tấm ván thuyền có thể che chắn được cho vua Trần Thái Tông trước loạn tiễn của quân địch [10].
Nhưng điều đó trở nên bất khả thi với sự ra đời của súng và đạn. Trong trận Hải Triều năm 1392, ván thuyền của vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga không còn có thể ngăn được những viên đạn súng của quân Trần. Tướng Trần Khát Chân sai binh sĩ nhắm vào thuyền sơn xanh của Chế Bồng Nga, hỏa súng nhất tề nhả đạn, xuyên suốt ván thuyền, khiến Chế Bồng Nga chết trong thuyền [11]. Đồng thời, có thể thấy rằng các viên đạn vẫn còn mang động năng khủng khiếp, xuyên thủng được ván thuyền dù phóng đi từ xa cả trăm mét từ bờ sông ra đến giữa sông. Tầm chiến đấu này xa gấp nhiều lần so với tầm dưới 40m của cung, nỏ.
Đây là sự kiện bản lề minh chứng sức mạnh hóa học của thuốc súng đã vượt trội so với sức mạnh cơ bắp, và đánh dấu quá trình hỏa khí thay thế cung nỏ trên chiến trường.
Những cây cung còn lưu lại
Dẫu dần trở nên lỗi thời, những cây cung Đại Việt vẫn là những mặt hàng thủ công mỹ nghệ được ưa chuộng. Như đã nói ở trên, chúng ta biết việc Minh Thái Tổ ban cung Giao Chỉ cho các công thần. Hiện nay ở bảo tàng Rijksmuseum ở Amsterdam cũng còn lưu giữ một cặp cung sừng Đại Việt trong bộ sưu tập vũ khí của đô đốc thủy quân Hà Lan thế kỷ 17 là Cornelis Tromp.
Theo thông tin của Bảo tàng, cây cung gồm hai cánh cung tương đối ngắn; tay cầm được bọc vải đỏ. Hai cánh cung được làm bằng sừng – một vật liệu rất chắc chắn nhưng khá nặng. Nhiều khả năng mỗi cánh cung được cấu tạo từ ba lớp, giống như một chiếc bánh kẹp: một lớp sừng ở ngoài, một lớp gỗ ở giữa và thêm một lớp sừng ở mặt còn lại. Cấu trúc này giúp tận dụng độ bền của sừng, đồng thời tránh cho cây cung trở nên quá nặng và khó sử dụng. [12]
Để so sánh, cây cung sừng phức hợp Việt Nam ở bảo tàng Rijksmuseum chỉ dài 118cm trong khi những cây trường cung đơn chất bằng gỗ của Anh quốc thế kỷ 16 trục vớt được từ tàu đắm Mary Rose có chiều dài lên tới 180cm - 200cm.
Cây cung và bộ tên tìm được ở lăng vua Đồng Khánh, hiện đang trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế. Ảnh: Trần Quang Đức
Một hiện vật cung quý giá khác là cây cung của vua Đồng Khánh thế kỷ 19 ở Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế. Theo nhà nghiên cứu Dương Việt Dũng, đồng sáng lập câu lạc bộ Long Thành Xạ Nghệ, "cây cung ở lăng vua Đồng Khánh có kết cấu vô cùng tinh tế và độ hoàn thiện cực kỳ cao. Dáng cánh cung thuôn dài, sức kéo rất nhẹ nhưng cánh cung vẫn đạt độ cân bằng hoàn mỹ.
Dưới góc độ chế tác thì một cây cung nhẹ và mảnh như vậy sẽ khó chế tạo hơn nhiều lần so với một cây cung trận có cánh cung dày, sức kéo nặng. Cặp sừng làm bụng cung có vân "đuôi hổ" trắng ngà, đặc trưng của loại sừng trâu quý giá bậc nhất trong nghề làm cung. Đôi sừng có vân đẹp rõ và dài thế này chỉ có thể cầu chứ khó có thể tìm được. Để cắt được miếng sừng như vậy, trình độ của người thợ cũng phải ở đẳng cấp cao.
Cây cung được phát hiện trong lăng vua ở Huế, dưới điều kiện độ ẩm không khí cao, thiếu sáng và hoàn toàn không được bảo quản đặc biệt khi phát hiện. Tuy vậy, tình trạng hiện tại của nó vẫn rất tốt. Các lớp vật liệu, cấu kiện, keo dán không bị độ ẩm ảnh hưởng: không mốc, bong tróc, tách lớp. Đây là một điều hiếm gặp, kể cả ở các cây cung sừng hiện đại chế tác ngày nay. Nếu thực sự đây là một cây cung sản xuất nội địa thì tay nghề chế tác cung của các thợ Việt Nam xưa kia là vô cùng tốt." [5]
Kết lại, cung và nỏ không chỉ là vũ khí mà còn là minh chứng cho trình độ luyện kim, tư duy cơ khí và kỹ nghệ chế tác tinh xảo của cha ông ta qua nhiều thế kỷ. Cung nỏ kể câu chuyện về những cuộc chiến đã lùi xa, về một nền văn minh biết tổ chức sản xuất, xây dựng quân đội và không ngừng tìm kiếm những giải pháp kỹ thuật để bảo vệ đất nước.
Dù không nổi tiếng trên thế giới như trường cung của Anh, những vũ khí ấy vẫn xứng đáng được nhìn nhận như một phần quan trọng trong di sản công nghệ và quân sự của Việt Nam.
---
Tài liệu tham khảo:
[1] Nguyễn Thị Thu Hoan và Phạm Thị Huyền. (2014), "Tìm hiểu về tướng quân Cao Lỗ và chiếc lẫy nỏ trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia," Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/16815/tim-hieu-ve-tuong-quan-cao-lo-va-chiec-lay-no-trung-bay-o-bao-tang-lich-su-quoc-gia.html.
[2] Trần Trọng Dương, Phạm Vũ Lộc, Nguyễn Ngọc Phương Đông (2025), "Lược sử khoa học và kỹ thuật Việt Nam tiền hiện đại", Hà Nội: Nxb. Đại học Sư phạm, 2025, tr. 275
[3] Chu Khứ Phi, Lĩnh ngoại đại đáp - Ngoại quốc môn thượng. https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&chapter=983166#p3
[4] Minh Thực Lục, Thái tổ Cao hoàng đế thực lục quyển chi thất thập. https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&chapter=882945
[5] Dương Việt Dũng, (2024) Sử liệu về việc sản xuất cung sừng tại Việt Nam, 2024. https://web.facebook.com/share/p/18wVtN7jcw/
[6] Đại Việt sử ký toàn thư, "Bản kỷ toàn thư – Trần Anh Tông Hoàng đế," tờ 14a, trong History of Greater Vietnam, Nom Foundation. https://www.nomfoundation.org/nom-project/history-of-greater-vietnam/Fulltext/41-search?uiLang=vn
[7] Lịch Đạo Nguyên, Thủy Kinh Chú quyển tam thập thất- Diệp Du Hà. https://ctext.org/text.pl?node=570399&if=en#n570406
[8] Lê triều tạo sĩ đăng khoa lục, 1842, bản ký hiệu VHv.1311, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
[9] Đại Việt sử ký toàn thư, "Ngoại kỷ toàn thư - Kỷ Thuộc Tùy, Đường", tờ 11b, trong History of Greater Vietnam, Nom Foundation. https://www.nomfoundation.org/nom-project/history-of-greater-vietnam/Fulltext/12-search?uiLang=vn
[10] Đại Việt sử ký toàn thư, "Bản kỷ toàn thư – Trần Thái Tông Hoàng đế," tờ 22a, trong History of Greater Vietnam, Nom Foundation. https://www.nomfoundation.org/nom-project/history-of-greater-vietnam/Fulltext/38-search?uiLang=vn
[11] Đại Việt sử ký toàn thư, "Bản kỷ toàn thư – Trần Thuận Tông Hoàng đế," tờ 17b, trong History of Greater Vietnam, Nom Foundation. https://www.nomfoundation.org/nom-project/history-of-greater-vietnam/Fulltext/41-search?uiLang=vn
[12] Bảo tàng Rijksmuseum, Bộ sưu tập vũ khí của Cornelis Tromp. https://www.rijksmuseum.nl/en/collection/object/Boog-behorend-bij-wapenrek-van-Cornelis-Tromp--9b94d5a5b66bb6bc1a8f242021fd45b7?tab=data