NỖI ĐAU [ĐÁU] CỦA TRỰC GIÁC (hay là tiếng gầm của sư tử)

"The Lion King” dường như suốt ngày chỉ rong chơi, tắm nắng hóng gió, “khi xem hoa nở khi chờ trăng lên”… Suốt ngày chỉ lo chải chuốt bộ bờm cho cái dáng vẻ “Mr. Oai” thêm phần trịnh trọng, bệ vệ, hoành tráng. Không lẽ “The Lion King” là tên playboy vô tích sự? Dĩ nhiên không. Ngài có một trọng trách mà kẻ nào không biết lại tưởng tầm thường: HỐNG!

Thưa! Tôi đang viết về văn học; tôi không hề có ý định viết về loài vật, cho dù là chúa sơn lâm, trong bài này.

Tôi cũng không có ý định kể chuyện ngụ ngôn. Thế gian này chưa có thêm loài vật nào đáng kể hơn những con đã được nhắc tới trong truyện của Aesop hay thơ của La Fontaine, nhất là trong văn của cuồng nhân Mông Lại (mà người đời sau cứ hay kính cẩn lên là Trang Chu với cả Trang Tử).

Ấy thế nhưng, trước hết, tôi vẫn phải viết về sư tử. Như một bài học lớp vỡ lòng, cho đám đồng ấu.

(Chuyện kể nghe có vẻ sốt ruột, ai đã qua tiểu học rồi thì thôi đừng đọc cũng được)

Nhân vật đáng chú ý nhất tất nhiên là con sư tử đực đầu đàn: mạnh mẽ, uy dũng, hùng tráng, lộng lẫy, quyền uy… như một bậc hoàng đế, như một danh tướng bất khả chiến bại. Như Alexandre Đại Đế, như Hannibal, như Caesar, như Thành Cát Tư Hãn, như Napoléon, như Quang Trung Nguyễn Huệ Hồ Thơm…

Thế nhưng, “The Lion King” lại chẳng bao giờ làm việc gì cả! Mọi việc đều do con sư tử cái (quân dung giản phác như “bà nông dân”) làm tất: sinh con đẻ cái (dễ hiểu), săn mồi để “nuôi đủ 5 con với 1 chồng”, tìm hang đặt ổ, đánh đuổi quân thù, bảo vệ giang sơn, bắt sưu thu thuế…

“The Lion King” dường như suốt ngày chỉ rong chơi, tắm nắng hóng gió, “khi xem hoa nở khi chờ trăng lên”… Suốt ngày chỉ lo chải chuốt bộ bờm cho cái dáng vẻ “Mr. Oai” thêm phần trịnh trọng, bệ vệ, hoành tráng. Rảnh thì vi hành quanh lãnh địa của mình vài vòng lấy lệ, cho thiên hạ biết “như ta đây”.

Không lẽ “The Lion King” là tên playboy vô tích sự?

Dĩ nhiên không.

Ngài có một trọng trách mà kẻ nào không biết lại tưởng tầm thường: HỐNG!
Tất cả tinh túy, sức mạnh, quyền năng chỉ vào mỗi cái việc ấy.

Vậy việc ấy có cái ý nghĩa gì mà quan trọng?

Thật dễ hiểu: tiếng rống của “The Lion King” vang đến đâu thì vương quốc của ngài rộng đến đó, không có bọn hươu nai chồn cáo linh cẩu nào dám xâm phạm.

Biên giới đã hoạch định xong rồi thì bọn sư tử cái với sư tử con cứ thế mà hưởng lộc, cứ thế mà ung dung hưởng độc lập – tự do – hạnh phúc.

Tất cả vương quốc đều sống nhờ vào những tiếng gầm của “The Lion King”, là vậy.

Tất nhiên, thưa quý vị, tôi đang viết về một con người: nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến.

Có nhiều nhận xét lộn xộn hay hình như ấu trĩ (hoặc “vồ hụt” [chữ của HNH]) về ông (các chỗ in đậm trong các đoạn trích ở bài này là tôi nhấn mạnh).

Có người nói:

Tuy nhiên, trong bài viết của mình, anh cũng để lộ cho thấy điểm yếu về mặt khái quát lý luận không dựa chắc trên cơ sở văn học sử và ngay bản thân lý luận cũng ít nhiều có tính chất tư biện. Chính tính chất tư biện này theo tôi mới là nguyên nhân chủ yếu gây nên những cuộc tranh cãi sôi nổi quanh bài viết của anh. Anh gọi ra đúng căn bệnh nhưng lại luận giải không chặt, không thật hoàn hảo, thấu đáo, nên bị phản ứng lại cũng là lẽ thường tình… Bất kỳ bài viết nào của anh cũng đều khoa học và đều có một chút gì đáng ngờ về mặt khoa học.

Lắm khi tên gọi và cái được gọi tên của anh không phù hợp, hoặc nội hàm khái niệm anh xác định còn khá mơ hồ, trừu tượng, không “vào” được thực tế.

Rồi thì:

Những quan niệm ông đưa ra bằng những cụm từ có tính triết học đã làm nên tên tuổi HNH và gây ra tranh cãi quanh tên tuổi ông … nhắc đến là thấy ra vấn đề, nhưng cũng rắc rối và phức tạp trong các vấn đề đó(1).

Có người viết (như bố người ta, loại “bố láo”):

Ông Hiến là người thông minh, nhưng không có công trình khoa học nào đáng giá … Những bản dịch của HNH cũng rất trung bình, không đặc sắc. Còn các bài viết thì Hoàng Ngọc Hiến rất kém, còn rất xa mới bằng được Nguyễn Đăng Mạnh và các nhà phê bình nghiên cứu khác. Ông Hiến không có được một bài viết nào hoàn chỉnh. Nhưng ông lại rất tài nghĩ ra các thuật ngữ … Rất giỏi. Nhưng để triển khai, bảo vệ những câu lập ngôn của mình, ông viết và lý giải rất kém(2).

Có người rằng:

Hoàng Ngọc Hiến hiện nay, cũng như một vài người khác ở ta…, khó mà phân định được là nhà gì: nhà triết, nhà phê bình, nhà dịch thuật hay nhà văn hóa? Thời đại khai minh khiến cho một số người có thực tài nhìn đâu cũng thấy cần phải khai quang. Họ trở thành nhà bách khoa bất đắc dĩ là vì vậy. Nhưng thời nào cũng có những con người dao pha, đa năng đến mức thành đa di năng.

Rằng:

Anh ít khi thuật một cách đủ đầy, có tính hệ thống, kể nội dung, mà thường chỉ tóm lấy một luận điểm nào đó, ấn tượng nhất, đẩy đến cùng cực, rồi diễn giải nó, phần nhiều theo ý mình, bằng các ví dụ bản thổ.

Làm học (và) thuật, dường như anh Hiến đã phản bội lại thiên tư lý luận của mình. Có thể, ở Việt Nam, dù trong bất kỳ lĩnh vực nào, làm lý luận thực sự là rất khó, cả ở điều kiện “tiên thiên” (người Việt không thích hoặc không có khả năng lý thuyết), lẫn “hậu thiên” (lĩnh vực lý thuyết luôn được coi như một đặc quyền của quyền uy chính trị). Hơn nữa, làm lý luận đòi hỏi sự dài hơi, dám trồng cây lâu niên. Liệu có thể vì thế mà anh chuyển sang công việc ngắn hạn hơn, phục vụ nhu cầu trước mắt, mang tính khai minh cho sinh viên và bạn đọc số đông. Nhưng ở vào thời buổi cũng đang cần đến những nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống, những chuyên gia cắm rễ vào một lĩnh vực, mà không phải ai cũng làm được, thì đó là sự phao phí.

Và rằng:

Còn bây giờ, khi đề cao minh triết phương Đông, anh đã đánh trúng tâm lý những người đương chán những lý thuyết duy lý và duy ý chí cực đoan, xơ cứng, và đáng lẽ đi tìm một lý thuyết khác nhu thuận hơn, thì lại muốn thoái lùi về tình trạng tiền lý thuyết.

Trong nội bộ hệ hình phê bình bị quy định bởi lề lối tư duy kinh viện Xô Viết thì phê bình Hoàng Ngọc Hiến là yếu tố nổi loạn nhất, có vẻ như chống lại hệ thống, nhưng do bản chất ấn tượng (phát biểu, nhận định, điểm nhãn, siêu lý luận) của nó, cho nên dù bao giờ cũng ở mép rìa của hệ thống, cũng không bao giờ thắng được sức hút của nó, để văng ra ngoài, gia nhập một hệ thống khác, tạo ra cuộc cách mạng hệ hình (3).

Thậm chí, chưa kể những thắc mắc kiểu thế này:

Tôi không biết TS Hoàng Ngọc Hiến được phong GS từ khi nào? Ai biết chỉ cho tôi với (4).

Những đòi hỏi của các vị kể trên là dành cho các sư tử cái hay sư tử con, thậm chí là hươu nai gà vịt trâu bò, chứ không phải là việc của “The Lion King”.

Việc của “The Lion King” là luyện giọng, để sao cho chỉ cần gầm lên một tiếng, thốt lên một lời, là “thiên hạ đại định”.

“Tiếng gầm của sư tử” cũng tựa như những tiên đề trong toán học, không thể chứng minh, và đến từ “trực giác”. Vua sư tử, chúa sơn lâm, càng cần có trực giác mãnh liệt mẫn tiệp nhất.

Trực giác là gì?

Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (do Trung tâm Từ điển học và Nxb Đà Nẵng ấn hành, 2005) định nghĩa:

Trực giác (d hoặc đg). Nhận thức trực tiếp, không phải bằng suy luận của lí trí.

Thật thế không? Phải chăng lý trí là vô địch, là “vũ khí hạt nhân”? Là chân lý tối thượng duy nhất đúng? 

Loài có lý trí cao như con người đã chắc gì hơn loài kiến hay các loài khác khi mà có lúc cả triệu người phải chết vì sóng thần mà các loài khác thì chạy kịp? Có ai nghe đến chuyện các thiền sư thượng thặng sử dụng “tư duy trực giác” chưa?

Và có lẽ Hoàng Ngọc Hiến luôn đi tìm cái đó. Với niềm đau đáu (trong “đau đáu” thì “đau” có trước, thế mới xé lòng [nguyên nhân của căn bệnh ung thư đại tràng, mà vì nó ông vừa phải cắt đi nửa mét ruột?]).

Chính trong những moment thốt nhiên tìm được, ông mới để lại những-tiếng-gầm, cùng với chúng là những đường biên giới mới của văn học [“Việt Nam XHCN”]. Phát súng đâu tiên “đủ để ăn cả đời” (chữ của HNH) phải là: “CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC PHẢI ĐẠO”. Hoàng Ngọc Hiến có nói rằng “phải đạo” đây chính là cái thuật ngữ bên trời Tây: politically correct.

Hãy nghe Phạm Xuân Nguyên diễn giải:

Năm 1979, báo Văn Nghệ số 23 đăng bài viết “Về một đặc điểm của văn học của ta trong giai đoạn vừa qua” của Hoàng Ngọc Hiến. Một bài báo đã làm lao đao số phận người viết ra nó, nhưng cũng đã đem lại vinh quang cho tác giả. Vinh quang của người đi tiên phong đổi mới tư duy nghiên cứu văn học, mà rộng ra là tư duy chính trị học thuật của cả một thời. Niềm vinh quang cay đắng! … Đặc điểm cơ bản, bao trùm của văn học suốt cả giai đoạn vừa qua, tức là văn học chiến tranh, theo Hoàng Ngọc Hiến, đó là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Dưới tên gọi đó tác giả gợi chúng ta cách hiểu là: trong văn học, phạm trù cái cao cả lấn át các phạm trù khác, sự ưu tiên vượt trội của việc thể hiện cái phải tồn tại đối với việc miêu tả cái đang tồn tại, tác phẩm bị quy về yếu tố xã hội nhiều hơn là yếu tố nghệ thuật. Hoàng Ngọc Hiến còn đi xa hơn, anh khơi tìm căn nguyên nguồn gốc tạo nên thứ “văn học phải đạo” ấy ở thế thái nhân tình của một thời qua, khi lối tư duy về con người – đối tượng chính của văn học – chỉ dừng lại ở những tập hợp dấu hiệu, đặc tính bề ngoài và sự thỏa mãn bằng lòng với kết luận muôn thuở “về cơ bản là tốt”… (5)

Rồi là: “VĂN HỌC DƯƠNG TÍNH”

Phạm Xuân Nguyên có trình bầy:

Qua lý thuyết “âm-dương”, anh muốn đạt cho kỳ được một điều này: văn học trước đây dương thịnh âm suy, bây giờ cần phải để cho văn học được dương suy âm thịnh (6).

Đỗ Lai Thúy thì bảo:

Hoàng Ngọc Hiến bắt chết hiện trạng văn học bao cấp này bằng những định ngữ thần tình như chủ nghĩa hiện thực phải đạo, nền văn học dương tính… Người đọc bấy giờ đang sống trong bầu khí khô hạn đón nhận ngay lập tức cơn mưa kịp thời (cập thời vũ) này. Hoàng Ngọc Hiến, quả thực, cũng là một thứ Tống Giang cho những bút mới như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh (7).

Rồi là những: “VĂN HỌC BƯỚC QUA LỜI NGUYỀN”, “TÁC PHẨM CÓ ĐÁY”, “TÁC PHẨM KHÔNG CÓ ĐÁY”, “VIẾT NỘI DUNG”, “KỂ NỘI DUNG”

Phạm Xuân Nguyên rằng:

Trường hợp với truyện ngắn Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh mà anh cho rằng nó đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ “văn học sám hối” để chuyển sang thời kỳ “văn học bước qua lời nguyền” thì người đọc rất hiểu anh cũng đâm nghi hoặc không biết nên hiểu anh thế nào cho đúng. Về mặt đặt tên, gọi tên cho một tác giả, một tác phẩm, một hiện tượng văn hóa văn học kiểu như thế, thì Hoàng Ngọc Hiến rất có tài. Trên đây đã nói đến cái tên “phải đạo”. Gần đây anh còn có: tác phẩm “có đáy” và “không có đáy”, tác phẩm “viết nội dung” và “kể nội dung”… (8)

Rồi thì: “TRÍ TUỆ CỦA TRÁI TIM”, “NGHỆ THUẬT LỚN THƯỜNG LÀ SỰ GIAO CẮT GIỮA HIỆN THỰC VÀ ‘TUYỆT ĐỐI’”, “CÁI NƯỚC MÌNH NÓ THẾ!”

Đã có mấy sư tử trên đời này phủ sóng được trên từng ấy đường biên của các lãnh địa??
Thật lòng, tôi cũng là người ủng hộ “trí tuệ của trái tim”, và, hoàn toàn đồng ý rằng “nghệ thuật lớn thường là sự giao cắt giữa hiện thực và ‘tuyệt đối’”. Đây là hai vấn đề khó mà trình ra được trong vài đoạn văn, xin khất quý vị được quay lại trong một bài khác vậy. Tôi thật tình xin lỗi. Nhưng, nếu quý vị vận dụng “trực giác” và “minh triết Việt” cho “tới”, thì câu trả lời đã ngay tức khắc hiển hiện ra trong “tâm” rồi vậy. Quý vị ngẫm xem có đúng không?

Đã có không ít nghệ sỹ đã phải thốt lên rằng là nếu không có những tiếng gầm ấy, những đường biên mới ấy, thì họ đã không thể viết được cái gì cả. Trước khi “The Lion King” cất lên tiếng gầm đầu tiên, tất cả đã chìm trong bế tắc, không biết phải viết thế nào, không biết phải làm gì để trải lòng mình. Những người phải cảm ơn ông nhiều ít có rất nhiều, trong số họ có tên Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Trần Cương, Nguyễn Khắc Trường, Trần Nhương, Đào Thắng, Nguyễn Hoa, Y Phương, Trần Quang Quý, Văn Chinh, Tạ Duy Anh, Võ Thị Xuân Hà, Dương Thuấn, Trần Đăng Khoa, Hữu Thỉnh… và cả Dư Thị Hoàn, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh.

Sau cú gầm “Cái nước mình nó thế!” (ông có giải thích cụ thể hóa thêm bằng một mệnh đề tiếp sau đó: “Nông dân và trẻ con!”), thì cả văn giới (và các giới khác) trong và ngoài nước đều xao động. Người Việt ta thốt lên câu này của ông trên khắp các châu lục. Đơn giản vì nó xác đáng trong mọi trường hợp dụng ngôn, theo “ngữ dụng học”.

Nguyễn Đăng Mạnh cung cấp thêm những tiếng gầm khác của “The Lion King”: “Tiếng Việt là một nguồn sướng thường xuyên của tôi. Nghe một câu tiếng Việt dí dỏm, sướng; đọc một trang tiếng Việt ngon lành, sướng; tìm được một từ Việt đích đáng, sướng.”, “Xúng xính chuyên môn”, “Xúng xính khoa học”, “Xúng xính mũ cao áo dài”, “Bõ hờn”, “Dân Nghệ cái gì cũng biết, trừ hạnh phúc!”

Cũng phải trình bầy thêm về những ý kiến của các nhà khác nói về ông.

Như là Tiến sỹ tâm lý học Phạm Hoàng Gia:

Tôi chưa thấy ai giảng Freud – một lý thuyết rắc rối và đầy rẫy sự đáng ngờ, mà giảng sáng rõ như anh Hiến.

Như là thi sỹ Nguyễn Trọng Tạo:

18 tháng 11 năm nay Khoa sáng tác – LLPB Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức kỷ niệm 30 năm Trường Đại học Viết Văn Nguyễn Du. Chả là thời đầu, trường Nguyễn Du chỉ là một khoa của ĐH Văn hóa. Qua nhiều biến động: khoa, trường, khoa… rồi chắc lại về trường riêng mới phải.

Vâng, mới đó mà đã 30 năm. Mỗi lần được mời trở lại giảng bài cho học viên ở đó, tôi lại nhớ về những người thầy thời chúng tôi học khóa 1 (1979-1982), đặc biệt thầy Hoàng Ngọc Hiến là thầy chủ nhiệm đầu tiên. Thầy là linh hồn của cái trường mới này. Với tài và tâm lớn, thầy quy tụ và mời được nhiều người tài giỏi (được gọi là “có vấn đề”) đến giảng bài. Thầy Hiến lại rất quý tôi và coi tôi như em, thậm chí như bạn vong niên, nên thầy bảo tôi gọi thầy bằng “anh”. (Thầy Trần Quốc Vượng, thầy Hồ Ngọc Đại hay thầy Mạnh… cũng vậy). Theo tôi, Anh Hiến là một người rất giỏi đưa ra vấn đề mới, có khi mới quá làm người ta phải tranh cãi, phản biện, thậm chí “đánh hội đồng”, nhưng rốt cuộc thì những vấn đề ấy lại tồn tại có ý nghĩa khai mở. Trong khi người ta đang tranh cãi thì Anh lại đã chuẩn bị để tung ra một vấn đề mới khác…

Đỗ Lai Thúy thì thủ thỉ:

Kể từ khi nghethấy đó, anh Hiến trong tôi mang dấp dáng một thần tượng. Bởi vậy, sau 1981, khi ra quân để tái hòa nhập vào xã hội giao tiếp, tôi bao giờ cũng dõi theo anh. Và đặc biệt nghĩ về anh như một ca, thậm chí một đại ca, của làng phê bình văn học Việt Nam đương đại. … Tuy nhiên, biết bao người được học hành tử tế như, thậm chí hơn, Hoàng Ngọc Hiến, nhưng không trở thành một người như anh. Hẳn họ thiếu một tố chất quan trọng, chất Hoàng Ngọc Hiến. Cần cù và có tính mục đích cao thì đó là sản phẩm chung của thổ người xứ Nghệ. Liệu có phải đặc trưng riêng của Hoàng Ngọc Hiến là chủ nghĩa độc đáo? Hay lỳ lợm? Có lẽ người làm phê bình ở Việt Nam ít nhiều cũng buộc phải lỳ lợm? Nếu không làm sao trụ nổi? Anh Hiến hẳn là một người lỳ được đánh số. Một thứ lỳ dựa trên sự thông minh, sắc sảo, cần cù và gàn bướng. … Anh ít khi thuật một cách đủ đầy, có tính hệ thống, kể nội dung, mà thường chỉ tóm lấy một luận điểm nào đó, ấn tượng nhất, đẩy đến cùng cực, rồi diễn giải nó, phần nhiều theo ý mình, bằng các ví dụ bản thổ. Nhưng chính sự chống lại lược thuật một cách hệ thống, chống lại lối tư duy kinh viện con tằm ăn lá dâu rồi nhả ra tơ… này lại tạo ra sự độc đáo Hoàng Ngọc Hiến (9).

Và đây là lời của “chiến hữu” Francois Jullien:

Hoàng Ngọc Hiến là một trí thức Việt Nam lớn, không những ông đã đấu tranh với đế quốc thực dân liên tiếp trong nhiều cuộc mà ông còn tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa phải đạo trong hệ tư tưởng. Cao tuổi như ông cũng là cái tuổi của minh triết, duy trên bộ mặt của ông bao giờ cũng có sự mãnh liệt của cảm xúc, của xác tín. Có lẽ ông đã yên vị nhưng ở ông chẳng có gì là nhẫn nhục. Ông “yêu nước”, đại loại người ta nói vầy vậy chẳng mấy quan tâm đến ý nghĩa của câu nói. Ông muốn truyền lại cho những thế hệ kế cận và với một tinh thần sốt sắng, ông muốn truyền lại cho tất cả những người đương chức đương quyền; và nếu như ông quan tâm đến công việc của tôi (ông đã theo sát từ mươi lăm năm nay), đó là bởi vì ông thấy nền văn hóa Việt Nam ở vào một tình thế hiểm nghèo(10)

Trong các truyện ngụ ngôn đều có cái motif “sư tử về già”, lúc ấy thì bọn chồn cáo cũng tát được sư tử. Thế nhưng, “The Lion King” Hoàng Ngọc Hiến vẫn lừng lững đi lên trên những mặt trận cũ mà rất mới: minh triết và minh triết Việt; ngoài ra, ông còn cùng với bạn đồng hành người Mỹ gốc Do Thái Frederick Turner cổ xúy chủ nghĩa Tân-cổ điển, và rồi là chủ nghĩa Cổ điển Tự nhiên. Thiết nghĩ, chúng ta cũng đừng dại mà bỏ qua “lời người già”.

Tuy nhiên, cũng không nên ép buộc sư tử già phải học những trò chơi mới của đám trẻ đang bầy ra. Nhưng, riêng tôi, nếu có trở thành tiểu thuyết gia thì đó là do sự phát hiện của ông trước hết. Ông đã bảo tôi nên viết một cuốn tiểu thuyết, sau khi ông đọc truyện ngắn “ma nhòa” tôi viết xong vào Rằm tháng 7/2007. Mà trước đó thì tôi chưa bao giờ có ý định viết cái gì dài.

Những người sáng tác phần nhiều đều như bơi giữa sông giữa biển, còn các nhà lý luận phê bình rất có thể là những ngọn hải đăng, những bến sông hay hải cảng. Riêng Hoàng Ngọc Hiến là một cảng trung chuyển quốc tế lớn (“GLOBAL HUB” (11).

Bài này là ý kiến riêng tôi, còn các bài khác nữa về Hoàng Ngọc Hiến thì có vô vàn, quý vị không thể không tìm đọc. Dẫu sao thì Hoàng Ngọc Hiến cũng là nhân vật “thực thực ảo ảo”, một ngôi “nhà” khác thường không giống những cái gọi là nhà theo quan niệm thông thường, không dễ mà luận một tiếng là xong nếu không có một ngòi bút biến ảo khôn lường đến mức khiến thiên hạ “chán chường”.

                                                                                                                        10/7/10 – 11/1/11

 (1) Nguồn: http://www.vanhoanghean.com.vn/tap-chi/nguoi-xu-nghe/816-hoang-ngoc-hien-ong-van-hien-tri-thuc-nuoi-lam-van-hoc-dich-dang.html

(2)  Nguồn: http://lethieunhon.com/read.php/4362.htm

(3)  Nguồn: http://nguyentrongtao.org/2010/07/03/d%E1%BB%97-lai-thuy-hoang-ng%E1%BB%8Dc-hi%E1%BA%BFn-va-tri%E1%BA%BFt-ly-hai-ban-chan/

(4)  Nguồn: http://lethieunhon.com/read.php/4362.htm

(5) Phạm Xuân Nguyên, “Người làm văn học đích đáng”.

(6) Nt.

(7) Đỗ Lai Thúy, “Hoàng Ngọc Hiến và triết lý hai bàn chân”.

(8) Phạm Xuân Nguyên, “Người làm văn học đích đáng”.

(9) Đỗ Lai Thúy, “Hoàng Ngọc Hiến và triết lý hai bàn chân”.

(10) Francois Jullien, “Pont des singes” – Gallilée, 2010.

(11)  “HUB is a central uniting place for people and organizations to come together and move our world from a place of survival, through self-empowerment, to sustainability on all levels…” Xin xem thêm tại: http://uk.answers.yahoo.com/question/index?qid=20090211125531AAEcH2f

Tác giả