![]() |
Bà Võ Thị Trung Trinh - Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh - trong buổi làm việc nhằm đẩy mạnh triển khai các đề án chuyển đổi số và hoàn thiện hạ tầng dữ liệu của thành phố. Ảnh: htv.com.vn |
Ngày 1/11 vừa qua đánh dấu tròn 29 năm bà Võ Thị Trung Trinh công tác trong lĩnh vực chuyển đổi số. Bắt đầu sự nghiệp là một chuyên viên tại Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh, bà dần trưởng thành và từng đảm nhiệm những vị trí như Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông, Phó Giám đốc và nay là Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh.
Bà Võ Thị Trung Trinh là một lãnh đạo nữ điển hình trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KH, CN, ĐMST & CĐS) ở khu vực công. Tuy nhiên, thống kê từ một nghiên cứu mới1 của Cơ quan Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam cho thấy những trường hợp như bà Võ Thị Trung Trinh thuộc về số ít khi tỷ lệ phụ nữ làm việc trong lĩnh vực này, đặc biệt ở các vị trí lãnh đạo và quản lý, vẫn còn thấp so với tiềm năng hiện có.
Cụ thể, theo nghiên cứu, tỷ lệ phụ nữ tốt nghiệp và tham gia lực lượng lao động trong các ngành STEM đều ở mức khoảng 37%. Tỷ lệ nhân lực nữ trong nghiên cứu khoa học cũng tương đương; thậm chí ở ngành khoa học y và dược, số lượng nữ nghiên cứu viên lên tới gần 60%.
Tuy nhiên, sự tham gia của họ bắt đầu giảm khi bước vào giai đoạn phát triển sự nghiệp. Tỷ lệ phụ nữ làm chủ nhiệm các đề tài về khoa học kỹ thuật và công nghệ do ngân sách nhà nước tài trợ mới chiếm hơn 26%, trong khi tỷ lệ nữ giới được cấp bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ chỉ từ 13 - 20%. Con số này tiếp tục giảm khi tiến tới giai đoạn nắm giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý: phụ nữ chiếm 14% vị trí giám đốc các Sở KH&CN của 34 tỉnh, 20% vị trí Vụ trưởng các vụ liên quan tới KH&CN của 10 bộ, và chưa từng có phụ nữ nào là Thứ trưởng hay Bộ trưởng Bộ KH&CN. "Trong khi đó, trên thế giới hiện có 43/156 nước có nữ Bộ trưởng Bộ Khoa học," ThS. Phạm Thu Hiền - chuyên gia cao cấp về giới, thành viên nhóm nghiên cứu - cho biết tại sự kiện chia sẻ các kết quả từ nghiên cứu của UNDP tại Việt Nam vào ngày 30/10.
ThS. Phạm Thu Hiền đánh giá sự "rò rỉ" này là một thách thức mang tính cấu trúc xã hội chứ không chỉ do một vài nguyên nhân đơn lẻ. Trong đó, áp lực nặng nề nhất đến từ những định kiến về năng lực, vai trò và kỳ vọng của xã hội đối với nữ giới. Ví dụ, trẻ em gái và phụ nữ thường được xem là không phù hợp với các môn học STEM hoặc thiếu năng lực lãnh đạo do quá "cảm tính" hay "thiếu quyết đoán". Phụ nữ còn được kỳ vọng phải "giỏi việc nước, đảm việc nhà", nên có thể bị đánh giá là khó toàn tâm toàn ý cho công việc.
Đáng nói, phụ nữ cũng tự trói buộc mình vào những "xiềng xích" vô hình. PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Loan, nguyên Phó Hiệu trưởng trường Đại học Thương mại, hiện là Ủy viên Hội đồng trường, chia sẻ thực trạng trong các cuộc bỏ phiếu cho vị trí lãnh đạo, phụ nữ thường không tự bỏ phiếu cho mình hoặc những người phụ nữ khác. Họ nghĩ rằng nam giới thì "thoáng" hơn, ít chịu các ràng buộc từ gia đình hơn nên sẽ hợp làm lãnh đạo hơn.
Cùng quan điểm, ThS. Đặng Tùng Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ - Chính phủ số, Cục Chuyển đổi số Quốc gia, Bộ KH&CN, cho rằng nhiều phụ nữ đang có tâm lý tự ti, tự hạn chế mình như vậy. Ông dẫn trường hợp của vợ mình, một giảng viên, nghiên cứu viên, khi có cơ hội tham dự một khóa học chỉ sáu tháng ở nước ngoài, dù được chồng ủng hộ và động viên, bà vẫn "nghĩ lên nghĩ xuống" vì lo chồng khó đảm đương việc chăm sóc con cái. Ông cũng thừa nhận trong khi người vợ có thể chấp nhận người chồng đi sớm về hôm để củng cố chuyên môn hoặc xây dựng các mối quan hệ thì rõ ràng người chồng rất khó chấp nhận người vợ làm như vậy.
Mặt khác, ThS. Phạm Thu Hiền lưu ý, nhiều văn bản pháp luật còn đang trung tính về giới, áp dụng như nhau cho cả nam và nữ mà không tính đến những khác biệt về giới. Các văn bản đa phần chưa đưa ra những chỉ tiêu về giới bắt buộc trong lãnh đạo, quản lý mà mới chỉ "khuyến khích", "phấn đấu" nên chưa có sự ràng buộc.
Trong khuyến nghị hoàn thiện khung pháp luật và chính sách để thúc đẩy nữ lãnh đạo trong KH, CN, ĐMST & CĐS, nghiên cứu của UNDP tại Việt Nam đặc biệt nhấn mạnh việc tăng cường cơ chế hạn ngạch nữ lãnh đạo và có thể thí điểm áp dụng tỷ lệ tối thiểu nữ giới trong hội đồng khoa học, chương trình quốc gia hoặc cơ chế ưu tiên tài trợ nếu đơn vị có cam kết rõ ràng về bình đẳng giới. Bên cạnh đó, nghiên cứu cho rằng cần lồng ghép tính công bằng, đa dạng và hòa nhập (trong đó có giới) trong cơ chế phân bổ ngân sách cho các ngành KH, CN, ĐMST & CĐS.
"Hiện nay trong rất nhiều đơn vị mà không có lãnh đạo nữ thì tôi cho rằng trong một số trường hợp là không thể tìm được, nhưng trong một số trường hợp chắc chắn là thiếu sót, bởi vì không thể có chuyện hoàn toàn không có được", nữ GS.TS Lê Minh Thắng - Chủ tịch Hội đồng xây dựng chương trình đào tạo Kỹ thuật Hóa học, Đại học Bách khoa Hà Nội, khẳng định.
TS. Vũ Thị Bích Hậu, Phó Giám đốc Sở NN&MT TP. Đà Nẵng, thậm chí còn tỏ ra quyết liệt hơn khi đề xuất lãnh đạo nữ phải chiếm một tỷ lệ tối thiểu cố định trong cơ quan, tổ chức, nếu chưa bổ nhiệm được lãnh đạo nữ thì để trống vị trí đó. Nếu làm được như vậy, bà tin rằng "một thời gian nữa, chúng ta không phải nói đến [vấn đề] tỷ lệ phụ nữ [lãnh đạo, quản lý KH&CN] nữa".
[1] https://papi.org.vn/wp-content/uploads/2025/10/Bao-cao-tom-tat_Nang-cao-vi-the-cua-phu-nu-trong-quan-ly-nha-nuoc-ve-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-.pdf
Bài đăng KH&PT số 1370 (số 46/2025)
Trà My
