![]() |
Đại diện tổ chức HCERES tham quan phòng thí nghiệm Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: Đại học Bách khoa Hà Nội |
Tại phiên họp lần thứ tư của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06, Thủ tướng Phạm Minh Chính thông báo, ngân sách dành cho phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số cũng bắt đầu được gia tăng với con số "trước nay chưa từng có", khi bổ sung ngân sách năm 2025 đến khoảng 25 nghìn tỷ đồng. Chính phủ cũng đã trình Quốc hội thông qua Nghị quyết về phương án phân bổ ngân sách Trung ương năm 2026, trong đó có lĩnh vực KH&CN. Con số ngân sách dự kiến dành cho KH&CN của năm 2026 là vào khoảng 95 nghìn tỷ đồng.
Phải chăng KH&CN đang đứng trước một cơ hội lớn để tạo ra những kết quả đột phá, hứa hẹn đóng góp nhiều hơn cho đất nước? Liệu trong cơ hội ấy, có chỗ cho khoa học cơ bản?
Khoa học cơ bản nằm ở đâu trong cơ cấu khoa học Việt Nam?
Kể từ khi Nghị quyết 57 ra đời vào cuối năm 2024, quan điểm về khoa học cơ bản đã có phần xoay chiều, khi người ta bắt đầu coi đây là một điểm tựa quan trọng để dẫn đến sự ra đời của các công nghệ mới hoặc nguồn nhân lực chất lượng cao. Những đổi mới trong quan điểm về vai trò của KH&CN và mô hình phát triển đất nước dựa trên nền tảng KH&CN đã được nhen lên trong Nghị quyết 57 "Kinh phí chi cho R&D đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển".
Con số 95.000 tỉ đồng dự kiến đầu tư cho KH&CN, trong bối cảnh đất nước còn hạn hẹp về nguồn lực đầu tư và đứng trước rất nhiều thách thức, là một cố gắng lớn để hiện thực hóa quyết tâm đó. Nếu nhìn vào con số phấn đấu 2% GDP thì Việt Nam đã tiệm cận với mức chi của một số quốc gia nhưng nếu nếu xét về quy mô nền kinh tế, chỉ số chung về đầu tư cho KH&CN của Việt Nam vẫn còn ở mức vô cùng khiêm tốn với các quốc gia tiên tiến. Ví dụ, theo báo cáo của Hội đồng Khoa học Quốc gia trực thuộc Trung tâm Thống kê Khoa học và Kỹ thuật Quốc gia Mỹ (NCSES), năm 2021, Mỹ đứng đầu thế giới về đầu tư cho khoa học, với 806 tỉ USD, tiếp theo là Trung Quốc 668 tỉ USD, Nhật Bản 177 tỉ USD, Đức 154 tỉ USD và Hàn Quốc 120 tỉ USD.
Vấn đề ở đây là, vậy việc đầu tư cho khoa học cơ bản cần được cân đối trên cơ sở tối ưu hóa các nguồn lực trong khi Bộ KH&CN hiện nay phải quản lý rất nhiều lĩnh vực rất khác nhau. Sự phân bổ kinh phí vừa cần đáp ứng đủ về lượng vừa thực sự phù hợp với năng lực và nhu cầu của khoa học cơ bản. Cách thức đầu tư cũng cần cân bằng giữa khuyến khích sự sáng tạo và chấp nhận rủi ro, đương nhiên chi sao cho đúng. Đã có hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật, từ luật đến nghị định, thông tư mới đã được ra đời để hướng dẫn quy trình quản lý và đầu tư nhưng hiệu quả thực hiện với khoa học cơ bản, cũng còn chưa thực sự rõ ràng.
Các nhà khoa học từng có nhiều năm sống và làm việc tại các nền khoa học tiên tiến thì cho rằng, việc xác định mức đầu tư như vậy còn phụ thuộc vào cấu trúc phát triển của KH&CN Việt Nam. "Một cấu trúc khoa học mà chúng ta nói rất nhiều là một nền khoa học thường bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Ở hầu hết các quốc gia phát triển, nhìn chung kinh phí cho ứng dụng cộng lại với cơ bản (R) là khoảng 40% còn phát triển (D) là trên 60%. Ở Việt Nam thì chẳng có cấu trúc ấy. Tất cả những điều đó chúng ta đều chưa rõ, chúng ta làm chưa chính xác", GS. Hồ Tú Bảo (Phòng thí nghiệm Khoa học dữ liệu VIASM) chia sẻ tại hội thảo "Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia: Những bài học kinh nghiệm" do Tia Sáng tổ chức vào ngày 9/5/2025. Ông cũng chia sẻ thêm, "Mình có thể hình dung do chiến lược phát triển KH&CN của họ, ví dụ như Mỹ, Nhật cũng đầu tư khoảng 14-17 % cho nghiên cứu cơ bản và đầu tư khoảng 82,5% cho nghiên cứu phát triển. Tất cả những chỉ số ấy đều hình thành trên cơ sở mục tiêu chiến lược, quy định của phát triển".
Để xác định được chính xác tỉ lệ chi cho khoa học cơ bản trong tổng số 95.000 tỉ đồng mà chính phủ dự kiến dành cho KH&CN trong năm 2026, Việt Nam cần có được cấu trúc của toàn bộ nền khoa học cũng như các mục tiêu ở phía trước cần đạt được. Nói theo tinh thần của vật lý lượng tử là "vấn đề của ngày hôm nay phụ thuộc vào ngày hôm qua và cả phụ thuộc vào ngày mai, không thể tách rời". |
Rõ ràng, tùy theo mục tiêu chiến lược của mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ phát triển mà tỉ lệ đầu tư giữa R và D thường có sự thay đổi nhất định. Người ta thấy ở Mỹ thường có những điều chỉnh linh hoạt về tỉ lệ chi R&D theo từng năm. Theo số liệu của NCSES, vào năm 2018, tổng đầu tư cho R&D của Mỹ là 580 tỉ USD, trong đó 96,5 tỉ USD cho nghiên cứu khoa học cơ bản, chiếm 16,6%; 115 tỉ USD cho nghiên cứu ứng dụng, chiếm 19,8%; và 368,5 tỉ USD cho phát triển, chiếm 63,5%. Tuy nhiên vào năm 2021, Mỹ chỉ đầu tư 15% trong tổng ngân sách cho KH&CN vào khoa học cơ bản, và vào năm 2024, đề xuất ngân sách của chính phủ Mỹ là tăng kinh phí cho nghiên cứu cơ bản thêm 1 tỷ USD (tăng 2,2%), nghiên cứu ứng dụng thêm 2,5 tỷ USD (5%) và phát triển thêm 5,9 tỷ USD (6,2%), đồng thời giảm 547 triệu đô la (7,5%) cho cơ sở hạ tầng và thiết bị R&D.
Nếu nhìn vào cơ cấu chi cho KH&CN của một cường quốc khoa học hàng nhất nhì thế giới khác là Trung Quốc, chúng ta cũng có thể thấy một tỉ lệ khá rõ ràng về khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, phát triển công nghệ. Theo một báo cáo của Viện Thống kê UNESCO, năm 2015, Trung Quốc dành 5,1% tổng chi cho nghiên cứu cơ bản, 18,9% cho nghiên cứu ứng dụng, 77% dành cho phát triển. Tuy vậy vào những năm sau, Trung Quốc đã nâng tỉ lệ đầu tư cho khoa học cơ bản lên, ví dụ theo Tổng cục Thống kê Trung Quốc, kinh phí nghiên cứu cơ bản năm 2023 tăng 11,6% so với năm trước. Và về tổng thể, tỷ lệ chi cho nghiên cứu cơ bản ở mức 6,77%; tỷ lệ chi cho nghiên cứu ứng dụng 11,0% và và phát triển là 82,2%.
Qua trường hợp của Mỹ và Trung Quốc có thể thấy, việc xác định tỉ lệ chi cho khoa học cơ bản phụ thuộc vào sự nhìn nhận vai trò của khoa học cơ bản trong từng giai đoạn phát triển. Quốc gia càng phát triển, càng nhìn thấy rõ sự đóng góp của khoa học cơ bản với sự phát triển của nền khoa học nói riêng và nền kinh tế nói chung thì càng gia tăng đầu tư cho khoa học cơ bản nhưng với quốc gia đi sau, cần ứng dụng để thúc đẩy nền kinh tế thì tỉ lệ chi thực dụng hơn. Tuy nhiên, đến một mức phát triển nào đấy, họ mới quay lại, tập trung chi cho khoa học cơ bản, coi đó là thứ vốn quan trọng cho kinh tế.
Do đó, để xác định được chính xác tỉ lệ đầu tư của khoa học cơ bản trong con số 95.000 tỉ đồng mà chính phủ dự kiến dành cho KH&CN trong năm 2026, Việt Nam cần có được cấu trúc của toàn bộ nền khoa học cũng như các mục tiêu ở phía trước cần đạt được. Nói theo tinh thần của vật lý lượng tử là "vấn đề của ngày hôm nay phụ thuộc vào ngày hôm qua và cả phụ thuộc vào ngày mai, không thể tách rời".
Vậy ngày hôm qua của KH&CN Việt Nam, hay những gì có được trước năm 2025, nói với chúng ta điều gì?
Việt Nam đã đầu tư cho khoa học cơ bản như thế nào?
NAFOSTED là một điển hình cho thay đổi quan điểm đầu tư cho khoa học cơ bản ở Việt Nam. Vào tháng 12/2024, trong lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập NAFOSTED – một cơ quan quỹ tập trung vào tài trợ cho nghiên cứu cơ bản, giáo sư Hoàng Văn Phong, nguyên bộ trưởng Bộ KH&CN, đã có chia sẻ với các hội đồng khoa học chuyên ngành và nhà khoa học nhiều năm tham gia vào các hoạt động tài trợ, nâng cao năng lực của quỹ, về câu chuyện đầu tư cho khoa học. "Vào năm 2002-2003, toàn bộ kinh phí cho hoạt động KH&CN của chúng ta mới chỉ vào khoảng 2.500 tỉ đồng, nhỏ hơn kinh phí đầu tư cho KH&CN hiện nay mươi, mười lăm lần. Với con số 2.500 tỷ đồng, Bộ KH&CN đã phân về 63 địa phương cộng với 41 đầu mối ở Trung ương (các bộ, ngành, các tổ chức). Với 200 tỉ đồng vốn được cấp, kinh phí đầu tư cho NAFOSTED xấp xỉ 10% kinh phí dành cho KH&CN toàn quốc. Có một sự rất cố gắng của Chính phủ, của Bộ Tài chính trong việc dành kinh phí cho NAFOSTED...", ông nhớ lại.
Sự ra đời của NAFOSTED, một cơ chế tài trợ cho khoa học cơ bản theo thông lệ quốc tế, là nhằm tập trung nguồn lực của nhà nước vào thúc đẩy nâng cao năng lực KH&CN quốc gia và nguồn nhân lực chất lượng cao đạt trình độ quốc tế. GS. Hoàng Văn Phong chia sẻ "Khi tôi mới về Bộ KH&CN, kinh phí dành cho nghiên cứu cơ bản là vào khoảng 20 tỉ đồng/năm, sau được nâng lên khoảng 30 tỉ đồng. So với các hoạt động nghiên cứu cơ bản do Bộ KH&CN quản lý thì Quỹ có nhiều điểm khác biệt về cơ chế vận hành và đầu tư nhằm tạo điều kiện cho các nhà khoa học có môi trường thuận lợi để nghiên cứu cơ bản và định hướng ứng dụng".
Môi trường thuận lợi ấy đã được cộng đồng khoa học và các nhà quản lý khoa học bàn thảo trong rất nhiều năm, song song với việc Bộ KH&CN cử cán bộ sang Thụy Sĩ để học hỏi cách điều hành một quỹ đầu tư cho khoa học cơ bản. "Các vấn đề chi tiết được NAFOSTED bàn kỹ hơn với các nhà khoa học như tiêu chí đánh giá nghiên cứu do quỹ tài trợ, tiêu chí lựa chọn chủ nhiệm đề tài, tiêu chí lựa chọn nhà khoa học trẻ... đều là kết quả của những buổi trao đổi và xin ý kiến các nhà khoa học, sau đó Ban quản lý Quỹ mới ban hành", GS. Hoàng Văn Phong nhìn lại cả chặng đường đi chật vật của NAFOSTED, một cơ chế quản lý tài chính và đầu tư cho khoa học quá mới mẻ ở Việt Nam hai thập niên trước.
Sự tồn tại của NAFOSTED không mấy khi xuôn xẻ. Dù trong Nghị định 23/2014/NĐ-CP về điều lệ và hoạt động của NAFOSTED có ghi rõ ở điều 12 "ngân sách sự nghiệp KH&CN cấp vốn điều lệ cho Quỹ là 500 tỷ đồng để tài trợ, hỗ trợ, cho vay, chi hoạt động quản lý của Quỹ và được bổ sung hằng năm để bảo đảm mức vốn ít nhất 500 tỷ đồng" nhưng trong quá trình hoạt động của Quỹ cho đến năm 2021, hầu như năm nào Quỹ cũng chỉ vận hành tài trợ ở mức dưới 300 tỉ đồng. Không chỉ có điều đó, dù được tiếng là theo thông lệ quốc tế nhưng những quy định về tài chính ở Quỹ vẫn không vượt khỏi các khung khổ tài chính của nhà nước. Đó là lý do mà triền miên từ năm này sang năm khác, các nhà khoa học thực hiện đề tài do Quỹ tài trợ đều than phiền về việc phải tuân thủ những quy định về đấu thầu vật tư hóa chất, quy định về xây dựng nhiệm vụ KH&CN, quy định về mức chi phí dành cho ngày công lao động..., dẫn đến việc hoặc đi ngược lại với bản chất khoa học khi không chấp nhận rủi ro hoặc bó buộc sự sáng tạo, ‘đẽo chân cho vừa giày"...
"Ăn cơm mới, nói chuyện cũ" để thấy rằng, đầu tư cho khoa học cơ bản luôn là một vấn đề phức tạp, đặc biệt là khi các nhà quản lý khoa học Việt Nam luôn bị kẹt giữa việc phải đáp ứng mong mỏi của xã hội và trách nhiệm giải trình về tài chính. Bất chấp việc khoa học cơ bản luôn được coi là gọn nhẹ, khi chỉ yêu cầu sản phẩm đầu ra là công bố quốc tế, nhưng vẫn có những yêu cầu về thủ tục giấy tờ như với các đề tài khác, dẫn đến những giải trình phức tạp thông qua hệ thống văn bản giấy tờ về chi phí sử dụng. Tuy nhiên, chúng ta phải thấy rằng, đầu tư và đánh giá hiệu quả đầu tư là hai công đoạn cần thiết cho một chu trình phát triển và ở khía cạnh nào đó là cơ sở hình thành những chính sách đầu tư mới trong tương lai.
Vậy những gì diễn ra ở NAFOSTED có đem lại gợi ý gì cho tương lai của khoa học cơ bản?
Cơ chế nào để xác định đầu tư và đánh giá hiệu quả?
Không riêng Việt Nam, các nền khoa học khác cũng luôn vật lộn với hai vấn đề chiếm phần lớn trong công tác quản lý và vận hành, đó là đầu tư và đánh giá như thế nào cho tối ưu. Các nghiên cứu "Performance-based research funding in EU Member States—a comparative assessment" (Tài trợ cho nghiên cứu dựa trên hiệu suất nghiên cứu ở các quốc gia thành viên EU – một đánh giá so sánh) trên Science and Public Policy và "Science policies: How should science funding be allocated? An evolutionary biologists’ perspective" (Các chính sách khoa học: Kinh phí tài trợ cho khoa học nên được phân bổ như thế nào? Một góc nhìn của các nhà sinh học tiến hóa) trên Journal of Evolutionary Biology, nêu cho chúng ta thấy quan điểm khác nhau của các quỹ trong đánh giá tài trợ, dựa trên bình duyệt của các chuyên gia hoặc dựa trên hiệu suất nghiên cứu, nghiêng về trắc lượng khoa học. Mỗi cách tiếp cận đều có ưu, nhược điểm riêng nhưng tựu chung lại, các tổ chức ở các nền khoa học tiên tiến đều chọn cách tiếp cận thứ nhất, hoặc cách tiếp cận hỗn hợp.
Nhìn chung, "các tổ chức nghiên cứu và các nhà tài trợ lớn của chính phủ Mỹ, bao gồm Viện Sức khỏe Quốc gia (NIH), Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) và Cơ quan Dự án nghiên cứu Quốc phòng tiên tiến (DARPA), đều dựa vào các hệ thống kiểm tra và cân đối chặt chẽ để đảm bảo tiêu chuẩn cao cho các khoản tài trợ và tính toàn vẹn tài chính ở mọi giai đoạn của tài trợ", Kelly S. Mix, Phó khoa phụ trách nghiên cứu, đổi mới và quan hệ hợp tác tại Khoa Giáo dục, Đại học Maryland, cho biết trên The Conversation.
Với một nền khoa học mới hội nhập như Việt Nam, việc đi tìm một cơ chế đầu tư và đánh giá hợp lý để có thể sử dụng một cách tốt nhất ngân sách dành cho khoa học cơ bản luôn là vấn đề thường trực, đặc biệt sau quá trình sáp nhập và tái cơ cấu bộ máy quản lý điều hành chung cũng như NAFOSTED. Theo thông báo của Bộ KH&CN, NAFOSTED đã được tái cơ cấu trên cơ sở sáp nhập ba đơn vị quản lý là Văn phòng các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước, Văn phòng các Chương trình KH&CN quốc gia và NAFOSTED. Dẫu NAFOSTED, cả cũ và mới, chỉ là một phần trong số các cơ quan tài trợ công cho khoa học cơ bản ở Việt Nam, nhưng những gì định hình nên quy trình đánh giá và xét duyệt đề xuất của nó trong quá khứ đã trở thành gợi ý quan trọng cho nhiều nơi khác, thậm chí cả tổ chức tư như VINIF, học hỏi cách làm.
Ở đây, những câu hỏi lại dấy lên là làm thế nào để ‘biết trước’ đề xuất khoa học nào đáng đầu tư? làm thế nào để một số nhà khoa học không ‘lợi dụng’ khoảng rộng chính sách chấp nhận rủi ro để tư lợi cá nhân? và làm thế nào để biết rằng khoản đầu tư ấy có đem lại hiệu quả nhất định? làm gì để đo lường được nó? Câu trả lời có lẽ nằm ở quy trình đánh giá và xét duyệt chuyên môn luôn phải đi kèm với nghiêm cẩn, minh bạch và công bằng. Đây sẽ luôn là điểm tựa quan trọng để khoa học cơ bản, trong và ngoài NAFOSTED, được đầu tư đúng mức mà không làm thất thoát tiền thuế của dân. Trong nhiều bài viết trên Tia Sáng, giáo sư Hoàng Tụy đã nhấn mạnh vào việc cần chú trọng ở khâu xét duyệt đầu vào "Tại sao không đặt nặng vấn đề đánh giá đúng đắn ở ngay khâu xét duyệt và phân định kinh phí cho đề tài?" Ông cho rằng, sự tồn tại của cái bất khả thi trong quản lý đề tài khoa học cơ bản chính là "cách nghiệm thu và đánh giá ngay sau khi kết thúc thời gian thực hiện đề tài, nếu làm trung thực... Làm xong một cây cầu, một nhà máy thì có thể nghiệm thu ngay lập tức, chứ còn kết quả khoa học cơ bản vừa mới làm xong mà muốn biết giá trị của nó, không đợi ý kiến phản biện của chuyên gia am hiểu, là chủ quan, khó tránh sai lầm".
Góc nhìn của giáo sư Hoàng Tụy, dựa trên những trải nghiệm và quan sát của ông trong quá trình làm toán, gợi mở cho chúng ta thấy rằng, việc đánh giá trong khoa học cơ bản cần phải dựa vào chính bản chất của nó, hơn là dựa vào những gì đã biết ở các lĩnh vực khác. Quan điểm của ông cũng tương đồng với quan điểm của Kelly S. Mix, từ kinh nghiệm của người nhận tài trợ, đánh giá tài trợ và quản trị viên trường đại học. "Các quyết định tài trợ của cơ quan chính phủ được đưa ra thông qua quá trình đánh giá nghiêm ngặt... Các cơ quan sẽ tập hợp một nhóm chuyên gia ẩn danh, những người sẽ phát hiện điểm mạnh và điểm yếu trong các đề xuất - từ sự đổi mới trong câu hỏi được đặt ra đến những sai sót logic trong các giả thuyết hoặc các vấn đề kỹ thuật trong các phân tích dữ liệu được lên kế hoạch. Việc xem xét kỹ lưỡng này có thể giúp giải thích tại sao trong mỗi lần xét duyệt, NIH và NSF thường loại đi từ 70% đến 80% hồ sơ. Tuy nhiên, mức độ giám sát này cần thiết để ngăn tài trợ cho các đề xuất được thiết kế kém hoặc tác động thấp". Ngoài ra, Kelly S. Mix cũng lưu ý cơ quan quỹ cũng có "một số biện pháp giúp ngăn chặn sự thiên vị hoặc ảnh hưởng phi đạo đức trong quá trình đánh giá".
Đó cũng là cách thức mà NAFOSTED trước thời điểm hợp nhất hướng tới. Tuy nhiên, nỗ lực của cộng đồng khoa học sẽ chỉ như muối bỏ bể nếu như các khung khổ tài chính quá khắc nghiệt. Có lẽ, sau một loạt những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng như Luật KH&CN, đổi mới sáng tạo và các nghị định, thông tư hướng dẫn, chúng ta có thể hy vọng vào sự cởi mở và đặt niềm tin vào nhà khoa học. Vào tháng 9/2025, trong cuộc trả lời báo Chính phủ điện tử, Giám đốc Quỹ Đào Ngọc Chiến giải thích, cơ chế quản lý mới sẽ thực hiện khoán chi đến sản phẩm cuối cùng. Quỹ không kiểm soát chi tiết từng hóa đơn, chứng từ như trước, mà tập trung vào việc giám sát và đánh giá đầu ra, hiệu quả và tác động của nghiên cứu. Ông lý giải, cách làm này sẽ trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm lớn hơn cho nhà khoa học, giúp họ tập trung hoàn toàn vào chuyên môn.
Những đổi mới ở NAFOSTED cũng như trong những tài trợ cho khoa học cơ bản theo những hướng dẫn của các văn bản quy phạm pháp luật mới sẽ như thế nào? Điều này, chúng ta chỉ có thể biết được sau nhiều năm tới.
Có lẽ, những người làm khoa học thì từ lâu đã biết rằng, khoa học cơ bản, dù ít được xã hội công nhận hơn, nhưng lại là yếu tố nằm sau những công nghệ đột phá và những sản phẩm đột phá cho xã hội. Điểm khởi đầu của ngành bán dẫn đang được bàn tán rôm rả trong thời gian gần đây là nghiên cứu năm 1947 của ba nhà vật lý tại Bell labs John Bardeen, William Shockley, và Walter Brattain, sau được trao giải Nobel. Họ chế tạo một thiết bị điện tử nhỏ gọn sử dụng những sợi dây vàng mỏng và một mảnh germani, một vật liệu được gọi là chất bán dẫn – một transistor có khả năng khuếch đại và chuyển đổi tín hiệu điện. Khi đó, họ không theo đuổi một sản phẩm cụ thể nào mà chỉ đặt ra những câu hỏi cơ bản về cách các electron hoạt động trong chất bán dẫn, thử nghiệm các trạng thái bề mặt và độ linh động của electron trong tinh thể germani trên cơ sở kết hợp hiểu biết lý thuyết từ cơ học lượng tử với các thử nghiệm thực tế trong vật lý chất rắn. Một công trình được coi là quá cơ bản, hàn lâm hoặc không mang lại lợi nhuận.
Chính phủ Mỹ đóng vai trò quan trọng cho những khoản tài trợ hào phóng vào Bell labs nhưng họ cũng không tưởng tượng đó là điểm khởi phát của ngành công nghiệp bán dẫn toàn cầu mà quy mô thị trường lên tới 681,05 tỉ USD vào năm 2024 và được dự đoán lên tới hơn 2.000 tỉ USD vào năm 2032 khi đem lại ứng dụng nền tảng cho nền kinh tế, an ninh quốc gia, chăm sóc sức khỏe, giáo dục... và thậm chí hứa hẹn cho cả tương lai số của toàn cầu.
Việt Nam chỉ có thể tận hưởng được những thành quả lâu dài của khoa học cơ bản nếu như tôn trọng và thực hành theo đúng bản chất của nó.
Bài đăng KH&PT số 1371 (số 47/2025)
Thanh Nhàn
