Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh đã thay đổi như thế nào theo thời gian? Tôi thử tra cứu câu hỏi ấy trên Google và đường link đầu tiên dẫn tôi đến một nguồn số liệu xem chừng rất khả quan [1]: phần lớn thời gian trong lịch sử, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh lên đến 50% - đến tận thế kỷ 18, ở châu Âu, tỷ lệ ấy vẫn ở mức chót vót như vậy. Nhưng chỉ trong vài chục năm gần đây, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh đã giảm rất nhiều, đến năm 2020, chỉ còn 4%.
Nếu nhìn vào mỗi con số, ta hẳn sẽ hân hoan, bởi thế giới đang ngày một tốt đẹp. Mà đúng là thế giới đang ngày một tốt đẹp. Nhưng chính vì thế giới ngày một tốt đẹp, ta hiếm khi bắt gặp một người cha, người mẹ mất đứa con sơ sinh hơn, nỗi đau của họ lại càng ẩn hình hơn.
Tại sao khoa học phát triển như vậy mà đứa trẻ có thể qua đời khi chưa tròn một tháng tuổi? Không còn sự khắc nghiệt của tự nhiên để đổ lỗi, người ta quay ra nghi ngờ cha mẹ.
René Magritte. Utopia, màu nước và màu bột, 32.1 x 41.8 cm, 1945. Nguồn: The Cleveland Museum of Art
Khi đọc Xứ sở vô danh của Doan Bui, nhà báo - nhà văn người Pháp gốc Việt, có một chi tiết về người mẹ sau khi mất đứa con mới hai tuần tuổi, gia đình cô bị liệt vào nhóm "hộ khả nghi". Nhân viên xã hội đến tận nơi để điều tra xem vì sao con cô chết, có phải do cô là một người mẹ thiếu trách nhiệm hay không.
Xứ sở vô danh là một tác phẩm phi thể loại. Nó nằm giữa tự truyện, tiểu thuyết, tiểu luận, truyện ngắn, nhật ký mang thai - sinh con - chăm con - chôn con. Nó là "cơn tiêu chảy từ ngữ" của một người mẹ vừa mất đi đứa con gái sinh non. Trước đó, cô cũng từng có một đứa con chết lưu.
Vài tháng trước, tôi viết một tản mạn nhỏ sau khi đọc cuốn Things in Nature Merely Grow của Yiyun Li, cuốn hồi ký tự truyện của nhà văn sau khi cả hai con trai đều tự sát. Trong cuốn sách của Li, bà bảo, con cái mất cha mẹ thì gọi là mồ côi, nhưng cha mẹ mất con cái thì không có từ ngữ nào diễn tả. Đó là một nỗi đau không tên.
Đến khi đọc Xứ sở vô danh, tôi mới biết rằng, tuy tiếng Anh, tiếng Pháp và nhiều ngôn ngữ hệ Ấn-Âu không có từ ngữ như vậy, nhưng trong những ngôn ngữ cổ xưa như tiếng Ả Rập, tiếng Do Thái, tiếng Phạn, tiếng Ba Tư, tiếng Hy Lạp thì đều có.
Chẳng hạn, tiếng Do Thái có từ shakul. Vậy là tôi làm tiếp một công đoạn nữa, đi tìm chữ shakul trong Kinh Thánh, và thấy trong phân đoạn khi đứa con trai út của Jacob bị buộc phải tới Ai Cập, vị tổ phụ đã khóc than và dùng từ này.
Đúng hơn, có lẽ đó là một nỗi đau cổ xưa. Nhưng theo thời gian, nỗi đau ấy bị giấu đi. Thế giới hiện đại không thích ủ ê quá lâu trong mất mát. Chúng ta bị bao vây bởi hình ảnh những đứa trẻ khỏe mạnh, những công thức nuôi con thành công, những quảng cáo mẹ và bé lanh lảnh tiếng cười, tràn trề tương lai. Một người mất con có thể đau khổ một thời gian, nhưng đừng chìm đắm vào đó. Ai hỏi bạn có ổn không thì bạn không nên nói rằng con bạn vừa qua đời. Câu hỏi thăm chỉ là một phép tắc xã giao, không ai thực sự muốn tiếp xúc gần với những nỗi đau như vậy.
Chúng ta thích nhìn khía cạnh tươi sáng của vấn đề. Có người bảo rằng, Yiyun Li hay Doan Bui, rồi cả những phụ huynh nổi tiếng như Ōe Kenzaburō hay David Grossman, họ dù sao vẫn may mắn chán. Họ có đặc quyền của những trí thức có tiếng nói, họ có thể viết những cuốn sách gửi đến những đứa con đã mất hoặc mắc dị tật của mình, rồi nhờ đó mà trở nên nổi tiếng, được độc giả yêu mến. Đôi khi họ còn nhận giải Nobel, giải Booker, giải Pulitzer cho những tác phẩm phơi bày nỗi đau bản thân. Nghĩa là ngay cả khi xưng tụng nỗi đau, công chúng cũng thích xưng tụng nỗi đau theo cách nó là động lực sáng tạo, là ấn tín của cái đẹp, là vương miện của nghệ thuật.
Xứ sở vô danh của Doan Bui do Thuận dịch và
NXB Kim Đồng ấn hành mới đây. Ảnh: NetaBooks
Ít khi ta thực sự muốn nhìn nỗi đau đúng như là nỗi đau. Nghĩa là nó xấu xí. Nói như một câu trong Xứ sở vô danh: "Ai thích nổi một kẻ bệnh hoạn, tang tóc hay tàn tật?... Nỗi đau làm con người xấu đi: mặt mũi hằn nếp nhăn hoặc bệu ra. Vâng, lạy Chúa, người buồn thì xấu xí thật, xấu đến mức không chịu nổi. Ai cũng thích ở bên những người xinh đẹp, vui vẻ, dí dỏm, khỏe mạnh."
Người mẹ trong Xứ sở vô danh đấu tranh với việc viết hay không viết cuốn sách. Một người đồng nghiệp của cô tỏ rõ sự khinh bỉ với một tác giả vừa ra mắt cuốn sách về đứa con đã chết của mình. Anh nghĩ như thế thật trơ trẽn. Tôi nghĩ hẳn cũng sẽ có nhiều người cho rằng nhà văn ấy đang trục lợi từ nỗi đau của chính mình.
Mà có cần đau khổ đến mức ấy không? Con người cũng thường ngấm ngầm so sánh mức độ nỗi đau, đến mức có cả một bảng đo mức độ căng thẳng của các nhà nghiên cứu Harvard, trong đó họ lượng hóa những nỗi đau thành các con số cụ thể, kiểu như mất bạn đời thì tính 100 điểm. Mất một người thân thì chỉ 63 điểm thôi, bất kể người thân ấy là cha mẹ, con cái hay anh em ruột thịt.
Nếu có hai người cùng mất con, ta cũng thường ngầm so sánh xem ai đau khổ hơn ai. Nhân vật người mẹ trong Xứ sở vô danh kể lại rằng, cô từng lên một diễn đàn trên mạng dành cho các cha mẹ mất con, và rồi thấy không ít thành viên ẩn danh cãi nhau chỉ vì cho rằng nỗi đau của người kia không thể lớn bằng nỗi đau của mình. Mất một đứa con vừa vào lớp Một thì hẳn phải đau khổ hơn mất một đứa con chỉ mới chào đời. Và so với những nỗi đau như thế, việc có một bào thai chết lưu lại càng chẳng đáng là gì, bởi đứa trẻ đã hình thành đâu, đã có ký ức hay kỷ niệm gì đâu?
Người mẹ trong Xứ sở vô danh đã có hai cô con gái. Lẽ thường, ta lại nghĩ, vậy thì không nên đau khổ mãi khi mất một đứa con sơ sinh. Sau đó không lâu, cô lại được nhận một giải thưởng báo chí cao quý. Ta muốn nghĩ đó là sự bù trừ, là ông trời không lấy hết của ai cái gì, bạn bị tước đoạt một thứ thì bạn sẽ được bù đắp thứ khác.
Con người thường muốn nghĩ theo cách ấy, rằng nỗi đau là một cái hố rỗng bị đào lên nhưng có thể được lấp trở lại. Đó là một hình ảnh sáo rỗng về nỗi đau.
Xứ sở vô danh nhắc nhiều tới Ōe Kenzaburō, nhà văn Nhật Bản mà khi đoạt giải Nobel đã nói đáng ra giải thưởng phải được trao cho con trai tôi. Con trai ông, khi sinh ra đã mang hình hài mà người ta vẫn gọi là "quái thai". Đứa bé mắc một căn bệnh nan y về não, một di chứng từ vụ ném bom nguyên tử ở Hiroshima. Ông viết nhiều về nỗi đau ấy. Và trong một truyện ngắn, ông kể về một chàng trai được thuê đi dạo cùng một người cha hóa điên sau khi con chết lưu. Ông ta tin linh hồn đứa trẻ hiện ra trên mây với hình thù dị dạng, và đặt tên đứa trẻ là quái vật của những đám mây.
Có lẽ nỗi đau giống với một đám mây. Không thể bị lấp đầy bởi bất cứ cái gì. Mây có thể tan hôm nay, nhưng ngày mai nó lại tụ vào, như một vòng tuần hoàn bất tận.
---
Chú thích:
[1] Child and Infant Mortality. Our World in Data. https://ourworldindata.org/child-mortality