VnExpress Thứ ba, 4/8/2026
Thứ hai, 3/8/2026, 05:56 (GMT+7)

Công bằng bóng râm - một dạng an sinh đô thị

Anh Thư

Trong thế kỷ của sóng nhiệt, bóng râm đang trở thành một dạng hạ tầng công cộng cần thiết, đặc biệt cho các nhóm lao động ngoài trời.

Ông Nguyễn Văn Dũng, tài xế xe ôm công nghệ ghé uống nước miễn phí trên đường Nguyễn Thái Học, quận 1, TP.HCM ngày 4/3/2021. Ảnh: Quỳnh Trần. Đồ hoạ: Mỹ Hạnh

"Quá vất vả. Mọi người ở trong nhà còn không chịu nổi, huống hồ bọn chị cứ đi long dong ngoài đường đẩy xe rác đầy", chị Ngọc Liên (công nhân vệ sinh, 50 tuổi) vừa nói vừa đẩy xe rác dưới cái nắng 41°C cuối tháng 5 vừa qua. Không khí ngột ngạt, đặc quánh, hơi nóng hầm hập hắt lên từ mặt nhựa đường, quyện chặt vào mùi rác thải bị om dưới nắng và nước rỉ rác.

Cuối tháng 5 vừa qua, miền Bắc và miền Trung vừa trải qua đợt nắng nóng đặc biệt gay gắt, xô đổ hàng loạt kỷ lục nhiệt độ lịch sử cùng kỳ. Nhiều người cố gắng điều chỉnh lịch làm việc để không ra đường vào các thời điểm nắng nóng, nhưng chị Liên hay những lao động ngoài trời khác như những người làm nghề cửu vạn, shipper, tài xế công nghệ, công nhân xây dựng... thì khó có thể làm vậy. Đường phố vẫn phải sạch, đồ ăn vẫn phải giao kịp giờ tới các văn phòng, các đại công trình hối hả chạy tiến độ...

Càng nóng, nhịp sống của đô thị dường như càng phụ thuộc nhiều vào lực lượng lao động ngoài trời.

Chị Ngọc Liên, công nhân vệ sinh tại Hà Nội, đang dọn rác trong đợt cao điểm nắng nóng, cuối tháng 5/2026. Ảnh: Huy Mạnh

Trong những ngày nắng nóng cực đoan, một khoảng bóng mát cây xanh dù chỉ chục mét vuông có thể giúp người lao động đỡ kiệt sức. Bóng mát tưởng chừng là thứ miễn phí mà ai cũng có thể dễ dàng tiếp cận như nhau, nhưng sự thực lại không phải như vậy.

Bóng râm ngày càng bị xóa sổ trong các lõi đô thị

Tại nhiều thành phố lớn, bóng râm - nơi trực tiếp giúp người lao động hạ nhiệt cơ thể - dần biến mất. Ở các quận trung tâm của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh chỉ còn bình quân khoảng 1 m² không gian xanh trên đầu người, chỉ bằng chưa đến 1 phần 10 tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 9257:2012 quy định về diện tích cây xanh đô thị bình quân đầu người.

Sự thay đổi trên bản đồ không gian ấy cũng thể hiện ngay trên nhiệt kế. Mất bóng râm, dưới tác động của "đảo nhiệt đô thị" nên nhiều khu vực ở các đô thị lớn có nhiệt độ cao hơn tới 7-8°C [1] so với ngoại thành. Đỉnh điểm từng ghi nhận, nhiệt độ bề mặt trung bình tại quận Đống Đa cao hơn huyện Ba Vì tới hơn 12°C. Chính mức độ giữ nhiệt rất cao này của đô thị gây ảnh hưởng rất lớn lên sức khỏe người lao động ngoài trời.

"Quy hoạch và thiết kế đô thị có thể làm nắng nóng ở các thành phố lớn trở nên nghiêm trọng hơn, không chỉ vì bản thân thời tiết nóng lên mà bởi đô thị đang giữ nhiệt nhiều hơn", TS. Trần Nữ Quý Linh (ĐH Queensland, Úc), nghiên cứu viên về sóng nhiệt và sức khỏe con người, nhận xét.

Thiếu các "máy điều hòa tự nhiên" là bóng râm và mặt nước sông hồ, các thành phố đang giải nhiệt theo cơ chế của điều hòa - phả khí nóng qua các cục nóng những khối nhà cao tầng mọc lên san sát cùng tầng tầng lớp lớp mái tôn. Giới khoa học gọi những con ngõ, những khe bê tông hun hún này là "hẻm nhiệt" (urban canyon) [2] - hơi nóng không thể tản đi đâu, kẹt lại và phả hầm hập qua lại giữa các vách nhà với mặt đường.

Không chỉ "bị động" giữ nhiệt, các thành phố còn "chủ động" thải nhiệt. Nguồn nhiệt từ hàng triệu chiếc xe máy, ô tô, từ các nhà máy công nghiệp và cả từ chính các cục nóng của những hệ thống điều hòa đang làm mát cho thành phố... có thể đóng góp tới 30-50% [3] vào tổng mức tăng nhiệt độ tại các khu vực đô thị, tiêu biểu như Hà Nội, vào năm 2030.

Trong bóng mát và ngoài trời

Hai người cùng đứng trong thành phố, cùng một thời điểm, cùng mức nhiệt 37°C nhưng chưa chắc đang chịu cùng một cái nóng như nhau.

Chính vì thế, PGS.TS. Trần Thị Tuyết Hạnh (Trường Đại học Y tế công cộng) giải thích nhiệt độ không khí chỉ phản ánh "trời nóng bao nhiêu", chứ chưa phản ánh "cơ thể con người phải chịu nóng đến mức nào", đang ở trong nhà hay đang lao động ngoài trời, có bóng râm hay không.

Do đó, một trong những thước đo cần thiết là chỉ số MRT (nhiệt độ bức xạ trung bình - Mean Radiant Temperature) mới cho thấy gánh nặng nhiệt - tức là phản ánh bức xạ nhiệt mà cơ thể tiếp nhận từ môi trường xung quanh, gồm mặt trời chiếu trực tiếp, lượng nhiệt tích tụ rồi tỏa ngược trở lại từ từ vỉa hè bê tông, tường nhà và các bề mặt đô thị...

Một nghiên cứu của Đại học California, Los Angeles (UCLA) cho thấy khi nhiệt độ không khí chỉ khoảng 31-35°C, chỉ số bức xạ nhiệt MRT tại khu vực không có bóng râm có thể lên tới 60-68°C. Chỉ cần bước dưới một tán cây hoặc mái che, chỉ số này giảm mạnh dù nhiệt độ không khí gần như không đổi. Người đứng trên nền đất dưới bóng cây và người làm việc giữa nền bê tông không có bóng mát hấp thụ hai lượng nhiệt hoàn toàn khác nhau.

Công nhân công trình đang làm việc dưới cái nắng tại Hà Nội. Ảnh: Hoàng Giang

Ở Việt Nam, tình trạng này còn nghiêm trọng hơn vì khí hậu nóng ẩm đặc thù. TS. Quý Linh cho biết "cơ thể chúng ta làm mát chủ yếu bằng cách tiết mồ hôi. Khi mồ hôi bốc hơi khỏi da, nhiệt lượng sẽ được lấy đi, giúp cơ thể hạ nhiệt. Tuy nhiên, khi độ ẩm không khí cao, không khí đã chứa nhiều hơi nước nên mồ hôi khó bốc hơi hơn. Cơ thể vẫn tiếp tục tiết mồ hôi nhưng không tỏa nhiệt hiệu quả, khiến thân nhiệt tăng nhanh hơn, tim phải làm việc nhiều hơn và nguy cơ kiệt sức hoặc say nắng, say nóng tăng lên". Hệ quả là thân nhiệt tăng nhanh hơn, tim và thận phải hoạt động nhiều hơn, làm tăng nguy cơ mất nước, kiệt sức, sốc nhiệt và đột quỵ.

Một nghiên cứu tổng quan do TS. Quý Linh và các cộng sự thực hiện được đăng trên tạp chí The Lancet Regional Health – Western Pacific [4] đã xem xét 129 nghiên cứu về biến đổi khí hậu và sức khỏe ở Việt Nam, cho thấy nhiệt độ cao và sóng nhiệt có liên quan đến gia tăng nhập viện và tử vong, đặc biệt do các bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hóa và các bệnh liên quan đến nhiệt.

Đây là lý do vì sao việc chỉ tập trung vào đo nhiệt độ không khí là chưa đủ để đánh giá đúng nguy cơ sức khỏe, PGS Tuyết Hạnh cho biết. Điều quan trọng hơn là cơ thể thực sự phải hấp thụ bao nhiêu nhiệt, được đánh giá thông qua chỉ số MRT và các chỉ số tích hợp khác như Nhiệt độ bầu ướt - Wet-Bulb Globe Temperature (WBGT), Chỉ số khí hậu nhiệt toàn cầu - Universal Thermal Climate Index (UTCI) hoặc nhiệt độ tương đương sinh lý - Physiological Equivalent Temperature (PET). Các chỉ số tích hợp này tính đến nhiều yếu tố như nhiệt độ không khí, độ ẩm, tốc độ gió, bức xạ mặt trời, nhiệt bức xạ từ bề mặt đô thị, mức vận động và đôi khi cả quần áo/bảo hộ lao động.

Các áp lực nhiệt dẫn tới nguy cơ sức khỏe đó phụ thuộc rất lớn vào việc con người đang làm việc ngoài trời ở nơi có bóng râm hay không.

Gánh nặng nhiệt không chia đều

Đảo nhiệt đô thị bao trùm lên cả thành phố, nhưng gánh nặng nhiệt lại không được chia đều giữa các nhóm lao động.

Có nhóm chỉ cần bước qua một cánh cửa kính là có điều hòa, có bóng mát nhưng ngược lại có nhiều nhóm làm việc ngoài trời mà không tìm nổi một bóng cây để giải nhiệt. Đáng chú ý khi nhóm lao động ngoài trời từ shipper, cửu vạn, công nhân vệ sinh hay công nhân xây dựng... theo các thống kê hiện nay lên tới cả chục triệu người trên cả nước. Công việc, kế sinh nhai, tiền thuê nhà, tiền học, tiền thuốc men... không thể chờ đến khi trời dịu mát.

Đó là lý do các nhà nghiên cứu ngày càng coi nắng nóng không chỉ là vấn đề khí tượng, mà còn là một vấn đề sức khoẻ môi trường ưu tiên cần được nghiên cứu bài bản và có chiến lược quản lý nguy cơ.

TS. Quý Linh cho biết ảnh hưởng của sóng nhiệt không giống nhau giữa các nhóm dân cư. Người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ mang thai, người có bệnh nền, lao động ngoài trời và người nghèo đều là những nhóm dễ bị tổn thương hơn do khả năng thích ứng và tiếp cận các biện pháp làm mát hạn chế.

Chị Liên hay các shipper không thể nghỉ làm chỉ vì trời nắng nóng. Trong những ngày nóng nhất, chị chỉ biết chuẩn bị vật bất ly thân là chai nước đường và chiếc áo có quạt gió nhỏ chạy rè rè hai bên eo.

Hải (20 tuổi), một nhân viên giao hàng, kể: "Em mà nghỉ chạy thì tiền đâu đóng tiền trọ tháng tới. Năm ngoái bố em, cũng là lao động ngoài trời ngã giàn giáo gãy chân... Có hôm em chạy tới 12 giờ trưa thì chịu không nổi phải về. Hôm bữa em lăn ra ốm, tiền thuốc còn nhiều hơn tiền chạy xe."

Những lời kể ấy cũng xuất hiện trong dữ liệu nghiên cứu. Kết quả khảo sát của PGS.TS Nguyễn Đức Lộc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đời sống xã hội (SocialLife) và các đồng nghiệp cho thấy, với người bán hàng rong, tài xế xe ôm công nghệ, công nhân xây dựng và công nhân vệ sinh, 60,5% từng bị say nắng hoặc kiệt sức vì nắng nóng.

Một người bán hàng rong trong đợt nóng tháng 6/2026. Ảnh: Tùng Đinh

Khảo sát cũng cho thấy 68,2% người lao động phải làm việc trong khung giờ nắng gắt nhất (10-14 giờ), hơn một nửa tiếp xúc với nắng liên tục từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Ước lượng cộng gộp thời gian nắng nóng liên tục kéo dài trong mùa hè, đặt các con số này cạnh thời gian làm việc trung bình (8,9 giờ/ngày và 25 ngày/tháng), có thể thấy tổng thời gian phơi nhiễm nhiệt tích lũy của một người lao động có thể lên tới 150 - 200 giờ. Tình trạng đó dẫn tới phơi nhiễm nhiệt kéo dài, lặp đi lặp lại, khiến cơ thể không có đủ thời gian để phục hồi.

"Người lao động ngoài trời chịu tác động của đồng thời 3 yếu tố: phơi nhiễm nhiệt kéo dài, lao động thể lực làm tăng sinh nhiệt trong cơ thể và thường thiếu điều kiện nghỉ ngơi, nước uống, bóng râm hoặc bảo hộ lao động phù hợp. Các nhóm lao động ngoài trời như nông dân, công nhân xây dựng, shipper, người bán hàng rong, công nhân vệ sinh môi trường, lao động di cư và lao động phi chính thức có nguy cơ cao hơn vì khó chủ động điều chỉnh giờ làm hoặc nghỉ khi trời quá nóng", PGS.TS. Trần Thị Tuyết Hạnh lý giải.

Bóng râm - đặc quyền mới ở đô thị

Một trong những thứ miễn phí của tự nhiên đang dần trở thành thứ khan hiếm trong đô thị hiện đại.

Trong nhiều thế kỷ, hàng cây ven đường, hồ nước hay những khoảng đất trống là nơi con người trú nắng, nghỉ chân và gặp gỡ. Nhưng quá trình bê tông hóa khiến bóng râm dần biến mất khỏi nhiều không gian công cộng và không phải ai cũng nhận ra. Hệ quả là, con người chỉ di chuyển từ một không gian kín có điều hòa sang một không gian kín khác, thay vì sống dưới những khoảng trời có bóng cây.

Sự thiếu hụt ấy không ảnh hưởng đến tất cả mọi người như nhau.

Một nghiên cứu [5] tại 25 thành phố trên thế giới cho thấy, ở 72% số thành phố được khảo sát, các khu dân cư có thu nhập thấp chịu mức phơi nhiễm nhiệt cao hơn. Mật độ thảm thực vật thấp là yếu tố vật lý quan trọng nhất góp phần giải thích sự khác biệt nhiệt độ giữa các khu vực trong thành phố. Chỉ số công bằng bóng râm - Tree Equity Score [6] cũng cho thấy người có thu nhập cao thường sống ở những khu vực có độ che phủ cây xanh lớn hơn đáng kể so với người thu nhập thấp.

Những bóng râm ít ỏi trên đường phố. Ảnh: Tùng Đinh

Nói cách khác, đô thị không chỉ phân phối thu nhập, nhà ở hay dịch vụ công; đô thị còn phân phối cả khả năng tránh nắng nóng. Điều đó đặc biệt rõ với những người lao động ngoài trời. Một nghiên cứu [7] tại Hyderabad (Ấn Độ) cho thấy đối với người bán hàng rong, bóng cây không chỉ giúp giảm nhiệt mà còn là điều kiện để mưu sinh. Tuy nhiên, quá trình chỉnh trang đô thị đã đẩy họ ra khỏi những con phố có nhiều bóng mát. Các nhà nghiên cứu gọi đây là vấn đề về "quyền tiếp cận bóng râm" (right to shade).

Hải cũng hiểu rất rõ giá trị của một khoảng bóng râm. "Nhiều lần em đứng chờ khách lấy đồ ăn dưới trời nắng chang chang mà không có lấy một gốc cây. Khách xuống chậm, mình lỡ than một câu là bị đánh giá một sao."

Hiện tượng thời tiết hay vấn đề an sinh?

Trong nhiều năm, nắng nóng thường được xem là một hiện tượng thời tiết. Nhưng khi các đợt sóng nhiệt xuất hiện dày hơn, kéo dài hơn và ảnh hưởng rõ rệt cho sức khỏe cũng như sinh kế, nó dần trở thành một vấn đề an sinh xã hội.

GS.TS. Lê Quang Cảnh (Đại học Kinh tế Quốc dân) nhận định Việt Nam hiện chưa có chính sách an sinh xã hội chuyên biệt dành cho lao động ngoài trời hoặc lao động phi chính thức phải làm việc dưới nắng nóng kéo dài.

Khảo sát của Viện Nghiên cứu SocialLife cho thấy gần 80% lao động ngoài trời phải tự tạm dừng việc để tránh nóng và hơn một nửa phải tự bỏ tiền mua các vật dụng chống nóng như quạt mini, bạt che, mũ, áo chống nắng hoặc nước giải nhiệt.

Đối với nhóm tài xế công nghệ, khoảng trống này còn rõ hơn. Bằng việc được gọi là "đối tác" thay vì người lao động, họ gần như phải tự gánh toàn bộ rủi ro sức khỏe do nắng nóng. Thậm chí chính áo đồng phục, thứ giúp thương hiệu của nền tảng số được nhận diện, càng khiến họ tăng gánh nặng nhiệt. "Áo toàn nilon nóng kinh khủng", "ước gì có thêm hai cái quạt ở hông" là điều nhiều tài xế xe ôm công nghệ than thở.

Một tài xế xe công nghệ chia sẻ anh đặt mua hai chiếc quạt nhỏ trên mạng rồi tự may vào áo. Đây là vật bất li thân của anh vào những ngày nóng. Ảnh: Anh Thư

Sức khỏe bị bào mòn kéo theo sinh kế bấp bênh trong những đợt nắng nóng. Nghiên cứu mới đây của nhóm GS. Lê Quang Cảnh, trên hơn 700 lao động ngoài trời (xe ôm, thợ xây, bán hàng rong...) tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cho thấy nắng nóng đang ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người lao động ngoài trời. Vào các đợt nóng, cứ 10 người thì có 3 người buộc phải giảm giờ làm, trung bình mất khoảng 2,4 giờ mỗi ngày.

Sự bấp bênh của hàng triệu cá nhân nhỏ bé ấy, khi gộp lại, đang tạo ra một tổn thất trên quy mô lớn. Theo dự báo [8] của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), đến năm 2030, tình trạng căng thẳng nhiệt do các đợt sóng nhiệt và nắng nóng cực đoan có thể khiến Việt Nam mất khoảng 5,14% tổng số giờ làm việc, tương đương lượng thời gian lao động của hơn 3 triệu việc làm toàn thời gian.

Sự bấp bênh này càng hiện rõ qua khảo sát của nhóm nghiên cứu SocialLife. Có tới 96,8% lao động ngoài trời thuộc khu vực phi chính thức, hoàn toàn không có hợp đồng lao động hay bảo hiểm xã hội (BHXH) do chủ sử dụng chi trả. Dù tỷ lệ sở hữu thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) đạt 75,5%, nhưng phần lớn trong đó là do họ tự bỏ tiền mua theo hộ gia đình hoặc thuộc diện chính sách xã hội, thay vì được chia sẻ rủi ro từ người thuê mướn.

Những giải pháp như mạng lưới "điểm tránh nóng", hạ tầng "nước uống-nghỉ ngơi-bóng râm" công cộng hay hỗ trợ thu nhập bị mất do thời tiết cực đoan như nhiều nước đã áp dụng đều là những giải pháp tức thời cần làm ngay để hỗ trợ lao động ngoài trời. Nhưng chừng đó là chưa đủ để giải quyết căn cơ bất bình đẳng gánh nặng nhiệt đang diễn ra.

Một người chở hàng nghỉ ngơi dưới tán lá Ảnh: Hoàng Giang

Đó là lý do PGS.TS. Tuyết Hạnh đề xuất cần có cơ chế để người lao động được tạm dừng hoặc điều chỉnh công việc khi điều kiện nhiệt vượt ngưỡng nguy hiểm mà không bị trừ lương, phạt hoặc mất việc. "Đây không chỉ là vấn đề y tế công cộng mà còn là quyền lao động và công bằng xã hội", chị bày tỏ.

Nhìn một cách hệ thống hơn, hiện nay, nắng nóng kéo dài đã được xem là một loại rủi ro thiên tai và được đưa vào hệ thống dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai. Quyết định 18/2021/QĐ-TTg quy định việc dự báo, cảnh báo và phân cấp rủi ro thiên tai, trong đó nắng nóng kéo dài được phân theo các cấp độ rủi ro để phục vụ chỉ đạo ứng phó. Bên cạnh đó, Việt Nam có Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến 2050, được cập nhật năm 2024. Kế hoạch này đề cập đến thích ứng trong nhiều lĩnh vực như y tế, xã hội, hạ tầng, nông nghiệp, tài nguyên nước và phòng chống thiên tai. Ngành y tế cũng đã có Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2019-2030, tầm nhìn đến 2050, nhằm tăng cường năng lực hệ thống y tế trong bảo vệ sức khỏe trước rủi ro khí hậu.

Luật An toàn, vệ sinh lao động đã đặt nền tảng về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong bảo đảm điều kiện làm việc an toàn. "Tuy nhiên, quy chuẩn vi khí hậu QCVN 26:2016/BYT chỉ áp dụng cho các hoạt động sản xuất, lao động mà người lao động chịu ảnh hưởng của điều kiện vi khí hậu trong nhà và không áp dụng cho nơi làm việc ngoài trời, công trường, phương tiện vận tải hoặc hầm lò.", PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh chỉ ra khoảng trống quan trọng cần được nghiên cứu, bổ sung.

Như vậy, "có thể nói Việt Nam đã có nền tảng chính sách ban đầu, nhưng cách tiếp cận hiện nay vẫn còn phân tán: khí tượng cảnh báo thời tiết; y tế hướng dẫn dự phòng say nắng, say nóng, quy chuẩn vi khí hậu; đô thị có quy hoạch cây xanh và hạ tầng. Điều còn thiếu là một kế hoạch hành động riêng cho sóng nhiệt gắn với sức khỏe - như mô hình Heat-Health Action Plan ở một số quốc gia, quy định rõ khi nào kích hoạt cảnh báo, ai chịu trách nhiệm, thông điệp gửi đến nhóm nào, cơ sở y tế chuẩn bị ra sao, trường học và nơi làm việc cần điều chỉnh giờ học giờ làm thế nào và chính quyền địa phương phải bảo vệ người dễ tổn thương bằng những biện pháp cụ thể nào", TS. Quý Linh phân tích.Các nhà khoa học đều cho rằng cần ban hành hướng dẫn quốc gia về bảo vệ sức khoẻ người lao động trong nắng nóng, có ngưỡng cảnh báo dựa trên chỉ số nhiệt phù hợp, như WBGT hoặc chỉ số tương đương.

Về dài hạn, yếu tố nhiệt độ cực đoan cần được đưa vào quy hoạch đô thị như một tiêu chí bắt buộc, tương tự như ngập lụt, giao thông hay ô nhiễm không khí. Điều này bao gồm mở rộng không gian xanh, bảo vệ hồ nước và kênh rạch, tạo hành lang thông gió, sử dụng vật liệu giảm hấp thụ nhiệt, cải thiện thiết kế nhà ở và tăng các không gian công cộng có khả năng làm mát.

Điều quan trọng nhất là cần thay đổi tư duy từ "ứng phó khi có nắng nóng" sang "thiết kế đô thị để thích ứng với nắng nóng". Nếu chuẩn bị tốt từ bây giờ, các đô thị Việt Nam có thể giảm đáng kể tác động sức khỏe và kinh tế do sóng nhiệt và nắng nóng cực đoan gây ra. Ngược lại, nếu tiếp tục phát triển đô thị mà chưa tính đến nhiệt độ cực đoan thì chi phí y tế, tổn thất lao động và bất bình đẳng sức khỏe sẽ ngày càng gia tăng.

Trong khi chờ đợi chính sách được áp dụng, những người lao động như chị Liên vẫn sẽ phải dựa vào bản thân để vượt qua cái nóng.

"Rác nhanh bốc mùi hơn những ngày mát. Nói chung là khó tả lắm. Vất vả đủ đường", chị nói trong khi chờ đợi xe đến cẩu rác đi. "Nhưng đấy là trách nhiệm, việc phải làm, mình không bỏ được".

---

Nguồn tài liệu trích dẫn trong bài:

[1] Nghiên cứu hiện tượng đảo nhiệt đô thị khu vực thành phố Hà Nội dựa trên dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat-9, Tạp chí Trắc địa - Bản đồ
https://www.geocartagis.org/nghien-cuu-hien-tuong-dao-nhiet-do-thi-khu-vuc-thanh-pho-ha-noi-dua-tren-du-lieu-anh-ve-tinh-landsat-9

[2] Urban Street Canyon, MIT
https://web.mit.edu/nature/archive/student_projects/2009/jcalamia/Frame/03_urbastreetcanyon.html

[3] Roles of past, present, and future land use and anthropogenic heat release changes on urban heat island effects in Hanoi, Vietnam: Numerical experiments with a regional climate model, Sustainable Cities and Society
https://doi.org/10.1016/j.scs.2019.101479

[4] Climate change and human health in Vietnam: a systematic review and additional analyses on current impacts, future risk, and adaptation, Regional Health – Western Pacific
DOI: 10.1016/j.lanwpc.2023.100943

[5] Disproportionately higher exposure to urban heat in lower-income neighborhoods: A multi-city perspective, Politics and Global Studies, School of (SPGS)
10.1088/1748-9326/ab3b99

[6] Tree Equity Score, American Forests
https://www.treeequityscore.org/

[7] The street as workspace: assessing street vendors’ rights to trees in Hyderabad, India, Landscape and Urban Planning
https://publications.azimpremjiuniversity.edu.in/2270/

[8] Working on a warmer planet: The impact of heat stresson labour productivity and decent work, ILO
https://www.ilo.org/sites/default/files/wcmsp5/groups/public/@dgreports/@dcomm/@publ/documents/publication/wcms_711919.pdf