Hình ảnh Biển Đông trên Cửu đỉnh

Cửu đỉnh ở Huế đang được nhà nước Việt Nam xét duyệt để công nhận là một Bảo vật Quốc gia. Trong các giá trị của nó, chắc hẳn người đời nay không ai không quan tâm đến chủ đề lãnh hải mà cổ nhân đã lưu lại một cách cụ thể bằng cả hình ảnh lẫn ký tự ở trên đó.

Cửu đỉnh là một bộ tác phẩm bằng đồng gồm chín cái đỉnh lớn được Bộ Công đúc tại kinh đô Huế vào năm 1836 dưới thời Minh Mạng và được đặt thành một hàng ngang trước sân Thế Miếu, nơi thờ các vua triều Nguyễn. Kích thước và trọng lượng các đỉnh không hoàn toàn bằng nhau. Đỉnh cao nhất là 2,50m và nặng nhất là 2.601kg (Cao đỉnh). Đỉnh thấp nhất là 2,31m và nhẹ nhất là 1.935kg (Huyền đỉnh). Mỗi đỉnh đối diện với một gian thờ trong tòa miếu ấy. Riêng đỉnh tương ứng với gian thờ vua Gia Long thì đặt hơi nhích về phía trước vì vua Minh Mạng cho rằng đó là vị Hoàng đế khai sáng và có công lớn nhất của triều đại.

Ở mặt trước hông các đỉnh đều đúc nổi hai đại tự mà chữ dưới là chữ đỉnh và chữ trên là tên gọi tắt miếu hiệu (tên chọn để thờ sau khi mất) của từng vua. Chẳng hạn như Cao đỉnh (Cao là miếu hiệu của vua Gia Long-Thế Tổ Cao Hoàng Đế), Nhân đỉnh (Nhân là miếu hiệu của vua Minh Mạng-Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế), Chương đỉnh (vua Thiệu Trị-Hiến Tổ Chương Hoàng Đế), Anh đỉnh (vua Tự Đức-Dực Tông Anh Hoàng Đế), cứ thế lần lượt cho đến đỉnh thứ 9, bao gồm: Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, Huyền đỉnh.

Đáng để ý nhất ở đây là 153 hình ảnh được thể hiện chung quanh hông các đỉnh. ở hông mỗi đỉnh, người xưa đã đúc nổi 17 cảnh vật, được phân bố theo một quy tắc chung: chia làm 3 hàng ngang, mỗi hàng gồm một chủng loại. Tại mỗi hình ảnh đều có chữ chỉ tên từng cảnh vật.

Bằng kỹ thuật đúc đồng điêu luyện và nghệ thuật chạm khắc tinh vi, các nghệ nhân thời Minh Mạng đã thể hiện một cách khái quát nhưng súc tích sự phong phú và đa dạng của các cảnh vật tạo nên sự giàu đẹp của tổ quốc, bao gồm núi sông, lãnh hải, cửa biển, cửa ải, động vật, thực vật, binh khí, xe thuyền, v.v… Nếu ở Nhân đỉnh có hình ảnh sông Hương (Hương Giang) thì ở Tuyên đỉnh có sông Hồng (Nhĩ Hà) và Huyền đỉnh có sông Cửu Long (Hậu Giang, Tiền Giang). Nếu ở Cao đỉnh có hình ảnh biển Đông (Đông Hải) thì ở Nhân đỉnh có biển Nam (Nam Hải) và ở Chương đỉnh có biển Tây (Tây Hải). Nếu ở Nghị đỉnh có cửa biển Thuận An (Thuận An hải khẩu) thì ở Thuần đỉnh có cửa biển Cần Giờ (Cần Giờ hải khẩu) và ở Dụ đỉnh có cửa biển Đà Nẵng (Đà Nẵng hải khẩu). Nếu ở Cao đỉnh có cọp (hổ) trên rừng thì ở Nhân đỉnh có cá voi (nhân ngư) dưới biển… Các hình ảnh ở Cửu đỉnh đều biểu hiện những cảnh vật rất thật và quen thân với dân tộc Việt Nam.

Khi đánh giá 153 hình ảnh trên Cửu đỉnh, một nhà nghiên cứu Tây phương là R. P. Barnouin đã nhận xét rằng bộ hiện vật bằng đồng này “tạo thành một bảng tài liệu biểu thị kiến thức bách khoa của các Nho sĩ thông thái trong triều đình Huế năm 1836, tài liệu được giữ nguyên vẹn dưới mắt chúng ta, trong khi đó thì những tài liệu khác đã bị tiêu hủy hoặc sai lạc” (The urns constitute a text expressing the encyclopedic knowledge of the learned men of the Court of Hue in 1836, a text preserved intact under our eyes whereas many others have perished or been deformed).(1)

Một nhà nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam là Huỳnh Hữu ủy cũng đã nhận định một cách sâu sắc về Cửu đỉnh trong một bài viết của ông như sau: “Đây là một cuộc triển lãm… xây dựng trên đời sống trí tuệ và tâm linh của cả một dân tộc mà cho đến ngày nay, giá trị ấy càng được xác định hơn. Tâm hồn của đất nước truyền thống biểu hiện tài tình… để ca ngợi Tổ quốc hoa gấm, nước biếc non xanh giàu đẹp, vững bền”.(2)

Có thể nói thêm rằng cuộc triển lãm lộ thiên này, trong một chừng mực nào đó, cũng là một bảng kiểm kê tài sản quốc gia vào những thập niên đầu thế kỷ XIX. Trong những tài sản quý báu nhất của đất nước được thể hiện trên Cửu đỉnh có phần lãnh hải của tổ quốc, mà cụ thể là biển Đông, biển Nam và biển Tây.

Biển Tây là vùng biển nằm ở phía tây của Nam Bộ, tiếp giáp với hải phận của Thái Lan, được gọi chung từ xưa là vịnh Thái Lan (Gulf of Siam). Biển Nam là phần lãnh hải nằm ở phía nam của Nam Bộ, tiếp giáp với hải phận của các nước Malaysia, Indonesia, v.v… Riêng hải phận của biển Đông thì rộng lớn hơn nhiều so với hai biển kia. Mức độ rộng lớn này đã được phản ánh trong câu tục ngữ có từ thời xưa:

Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn.
Thuận trai thuận bạn, tát cũng cạn biển Đông.

Nội dung câu tục ngữ cho thấy nếu có sự đồng thuận và quyết tâm trong hành động thì công việc dù khó khăn và to lớn đến mấy cũng làm được, chẳng hạn như tát hết nước của biển Đông sâu rộng.

Dù sao, các hải phận của nước ta cũng đã được triều đình nhà Nguyễn bấy giờ quan tâm một cách đặc biệt. Hình ảnh biển Đông được thể hiện trên Cao đỉnh (Gia Long), biển Nam trên Nhân đỉnh (Minh Mạng) và biển Tây trên Chương đỉnh (Thiệu Trị) là 3 cái đỉnh to cao nhất và quan trọng nhất, tượng trưng cho ba ông vua đầu tiên của triều đại. Trong ba vùng biển ấy, theo quan niệm của triều đình Minh Mạng, biển Đông nằm ở vị trí thiết yếu số một, cho nên hình ảnh của nó đã được đúc nổi ở Cao đỉnh, cái đỉnh trọng đại nhất trong Cửu đỉnh, xét về nghĩa đen cũng như nghĩa bóng.

(1)    R. P. Barnouin, “Les bas-reliefs des urnes dynastiques de Huế”, Bulletin de la Société des études Indochinoises, Bộ mới, tập XLIX – số 3, 1974, Sài Gòn, tr. 426.

(2)    Huỳnh Hữu ủy, “Cửu đỉnh – Biểu tượng của văn hóa và nghệ thuật Huế”, tạp chí Đất mới, Canada, bộ 2, số 3, tháng 3/1990.

 

Tác giả