Kỳ 4: Tư liệu Việt Nam có cơ sở vững chắc và ngày càng thêm phong phú

Trong khi những tư liệu được Trung Quốc tập hợp và trích dẫn phần nhiều bị cắt xén, gán ghép và mâu thuẫn, bị nhiều học giả quốc tế phản bác thì các tư liệu về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa ngày càng dày dặn và vững chắc thêm.

Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo xuất hiện trên các bản đồ hàng hải phương Tây trước thế kỷ XVII hầu hết đều đi liền với tên gọi Ciampa hay Campa. Điều có nghĩa những đảo này từng gắn rất chặt với vương quốc Champa, sau này trở thành một bộ phận của nước Việt Nam.

Bản đồ sớm nhất của Việt Nam có thể hiện hai quần đảo là bộ Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá Công Đạo vẽ vào năm Chính Hòa 7 (1686). Trên bản đồ quần đảo Hoàng Sa được ghi bằng chữ Nôm là Bãi Cát Vàng (? 葛 鐄) còn Trường Sa là Vạn lý Trường Sa. Phần chú giải tác giả viết:

“Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh. Mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy; có gió Đông Bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hang hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”1.

Chỉ một tư liệu này thôi đã nói được nhiều điều. Từ thế kỷ XVII người Việt đã lui tới, vẽ bản đồ, đặt tên (rất Việt), khai thác và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo. Loại tư liệu có căn cứ xác đáng như vậy Trung Quốc không hề có.

Sang thế kỷ XVIII, ghi chép của nhà bác học Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục còn cho biết chính quyền chúa Nguyễn đã khẳng định chủ quyền thông qua việc tổ chức quy củ các đơn vị chuyên trách thực thi công vụ trên hai quần đảo (Đội Hoàng Sa và  Đội Bắc Hải), quy định rõ ràng về phiên chế, phân rõ địa phương thực hiện, quy trình, thủ tục và nhiệm vụ cụ thể: “Trước đây họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, luân phiên nhau hàng năm cứ vào tháng ba nhận mệnh đi làm sai dịch, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ ra biển, ba ngày ba đêm mới đến đảo này… Lấy được được hóa vật của tàu như gươm, tiền bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, đồ sứ, ngà voi, sáp ong, đồi mồi, hải sâm, vỏ ốc…rất nhiều. Đến tháng Tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp. Cân định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh trở về ”.

Những công việc của các đội đặc nhiệm này được quản lý rất chặt chẽ. Lê Quý Đôn đã tận mắt xem sổ ghi chép của một viên Cai đội tên là Thuyên và cho biết: “Năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc… ”2.

Năm 1802, triều Nguyễn thành lập, xây dựng một chính quyền cai trị thống nhất từ Bắc chí Nam. Tiếp tục duy trì sự hiện diện và khai thác các nguồn lợi như các chúa Nguyễn, các hoàng đế đặc biệt quan tâm đến việc củng cố chủ quyền lãnh hải và trên các đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Các nhà nghiên cứu đã trưng ra được rất nhiều đoạn chính sử, các văn kiện chính thức (châu bản) và những chỉ dụ, sắc lệnh do hoàng đế trực tiếp ban ra về các công việc liên quan đến hai quần đảo, như việc vua Gia Long ra lệnh cho quân đội ra dựng mốc căm cờ vào năm 1816, vua Minh Mệnh trực tiếp xử lý việc thưởng phạt đối với các sĩ quan và bình lính thực thi công vụ; trực tiếp phê duyệt kế hoạch xây chùa cùng việc phân bổ ngân sách và nhân lực thực hiện các công việc đó…

Những căn cứ không thể xác đáng hơn là cùng với những tư liệu được ghi chép trong các bộ chính sử, các tư liệu trong kho lưu trữ, chủ quyền Việt Nam còn hiển hiện trong các tài liệu được lưu giữ trong dân như những di vật của tiền nhân là những người tham gia Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải. Đó còn là những di tích như miếu thờ, nghi lễ tế sống các binh lính Hoàng Sa trước khi đi làm nhiệm vụ…

Có thể nói đến thời Nguyễn, chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trương Sa đã được thiết lập và thực thi một cách đầy đủ và toàn vẹn, không có sự tranh chấp nào. Chính vì vậy, khi đánh chiếm được Việt Nam, Pháp đã mặc nhiên đặt quyền quản lý của chính quyền đô hộ lên hai quần đảo. Người Pháp đã cho xây dựng các đài khí tượng, trạm quan trắc và cắt đặt lính đồn trú trên các đảo.

Năm 1950 chính phủ Pháp chuyển giao quyền quản lý hai quần đảo cho chính phủ Quốc gia Việt Nam. Thủ hiến Trung phần Phan Văn Giao là người đứng ra tiếp nhận. Chỉ hơn một năm sau, vào tháng 8 năm 1951 Tân Hoa xã Trung Quốc lên tiếng “khẳng định quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa”. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc tuyên bố công khai về vấn đề này. Trước tình hình đó, ngày 7 tháng 9 năm 1951 tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu long trọng tuyên bố về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không có bất cứ sự phản đối nào trước lời tuyên bố đó. Trong khí đó có ý kiến giao hai quần đảo này cho CHND Trung Hoa đã bị 48/51 phiếu chống.

Trong thời gian Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền, hai quần đảo nằm phía nam vĩ tuyến 17 nên thuộc quyền quản lý của Chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã tiếp nhận quản lý, sắp đặt lại đơn vị hành chính và liên tục có những tuyên bố và hành động chống lại các hành vi khiêu khích hoặc những yêu sách đòi chủ quyền của Trung Quốc.

Năm 1974, sau nhiều lần đột kích, Trung Quốc đã công khai dùng vũ lực chiếm các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. Đây là hành vi trái với tất cả mọi luật pháp và công ước quốc tế về thụ đắc lãnh thổ. Nhưng cũng từ đây Trung Quốc ngày càng đẩy mạnh việc tuyên truyền, các biện pháp ngoại giao và gia tăng sức ép quân sự để đơn phương khẳng định chủ quyền của mình không chỉ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà còn với cả phần lớn biển Đông thông qua yêu sách đường 9 đoạn. Năm 1988, Trung Quốc lại một lần nữa dùng vũ lực để chiếm các đảo Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Tư Nghĩa, Gạc Ma và Xu Bi thuộc quần đảo Trường Sa3.

Chính phủ Việt Nam luôn kiên trì với đường lối sử dụng các biện pháp hòa bình và tôn trọng các điều ước quốc tế để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, thông qua các tuyên bố của những người đứng đầu đất nước, và thái độ của nhân dân, Việt Nam luôn tỏ rõ thái độ cương quyết bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của mình, không phải chỉ bằng lời nói mà bằng cả hành động khi cần thiết.

Kết luận

Biển Đông đang nóng lên. Cùng với những biện pháp quân sự, ngoại giao, truyền thông mà các bên có liên quan đều đang cố gắng đẩy mạnh, việc nghiên cứu để hiểu sâu sắc và xây dựng những luận cứ khoa học học cho việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vô cùng cấp thiết.

Có thể nói Trung Quốc đã đi trước Việt Nam khá lâu trong việc tập hợp lực lượng và tổ chức nghiên cứu để xây dựng luận chứng khoa học và cơ sở pháp lý về chủ quyền Trung Quốc trên hai quần đảo mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa. Sự cố gắng đó đã được thể hiện trong một bộ sách dày dặn với sự tham gia của đông đảo giới học giả Trung Quốc. Tuy nhiên, cho đến nay những luận lý đưa ra ngày càng bộc lộ những nhược điểm và hạn chế. Tư liệu được tập hợp và trích dẫn phần nhiều bị cắt xén, gán ghép và giải thích tư biện và khiên cưỡng. Đó là chưa kể đến những mâu thuẫn giữa tư liệu này và tư liệu khác. Không phải ngẫu nhiên mà trong giới học giả quốc tế ngày càng có nhiều người phản bác luận lý của Trung Quốc. Thậm chí ngay cả học giả Trung Quốc cũng đã có người lên tiếng phê phán.

Trong khi đó rất đáng ghi nhận những cố gắng hết sức lớn lao của các cơ quan có trách nhiệm, giới nghiên cứu và của toàn thể nhân dân Việt Nam cả trong và ngoài nước trong việc sưu tầm, hiến tặng tài liệu và công bố những kết quả nghiên cứu, khiến cho luận cứ khoa học và căn cứ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam ngày càng dày dặn thêm.

Như một chân lý khách quan, Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo của Việt Nam nên những tư liệu và chứng cớ khẳng định chủ quyền của Việt Nam cũng với thời gian ngày càng trở nên rõ ràng và phong phú thêm. Trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh hải và trên hai quần đảo này, giới khoa học giữ một vai trò vô cùng quan trọng./.

1 Dẫn theo Nguyễn Nhã: Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. NXB Giáo dục, 2013, tr. 40.

2 Lê Quý Đôn: Sđd, tr. 115-116.

3 Những chi tiết cụ thể về các nguồn tài liệu rất phong phú về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thể tham khảo thêm công trình của các tác giả Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Nhã, Nguyễn Hồng Thao, Trần Công Trục…

Tác giả