Ngã ba 2007*

LTS: Bài viết Ngã ba 2007 của nhà nghiên cứu Nguyễn Trung là một trong những tham luận của cuộc hội thảo Tăng trưởng và phát triển bền vững do Tạp chí Tia Sáng dự kiến tổ chức vào tháng 2 năm 2008.

Trong lịch sử quốc gia, phát triển bao giờ cũng là một quá trình mang tính liên tục, thường khó xác định một cột mốc thời gian cụ thể cho một bước tiến hóa nào. Song thật hiếm thấy ở nước ta có năm nào có những chuyển biến xuất hiện rõ ràng như năm 2007: (a)quy mô nền kinh tế đã tới đạt đỉnh cao của phương thức phát triển theo chiều rộng, (b)đòi hỏi về sự phát triển năng động mới đang trở nên bức thiết, (c)thời cơ to lớn trong tay và những thách thức mới trong tình hình hội nhập toàn diện càng thúc đảy phải đi tìm chiến lược phát triển mới.
Cả 3 yếu tố này đang tạo ra một tình hình phảng phất không khí của năm 1986, khác chăng hồi đó là sự bức bách bất khả kháng mở ra công cuộc đổi mới, còn bây giờ – năm 2007 – là sự thôi thúc không nhân nhượng:
Hoặc là năm 2007 sẽ đánh dấu sự mở đầu bước vào một thời kỳ mới với sự lựa chọn dứt khoát chuyển sang sự phát triển năng động và bền vững để đi lên, hoặc là để cho thời cơ tuột tay và mọi yếu kém hiện có lấn át – với tất cả hệ lụy trước sau sẽ dẫn tới một bước ngoặt khác.
Tính chất quyết liệt ấy chính là điều đáng ghi nhớ cho năm 2007.


I. Con đường chuyển sang thời kỳ phát triển mới đã mở ra

Trước hết, năm 2007 nước ta đạt thành tích cao nhất trong 22 năm đổi mới, mặc dù vẫn còn nhiều yếu kém lớn.
Những thành tựu cụ thể và các chỉ số tăng trưởng nêu trong báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa X nói rõ điều này. Tăng trưởng GDP năm 2007 đạt 8,5%, là mức cao nhất từ 10 năm này. Đương nhiên kết quả này là sự tiếp nối những nỗ lực và thành tựu của những năm trước. So sánh tốc độ tăng trưởng từng mặt của năm 2007 sẽ thấy hầu hết các chỉ số đều vượt tốc độ của năm 2006; (chỉ riêng sức tăng trưởng xuất khẩu dầu thô giảm vì lượng khai thác dầu giảm khoảng 1 triệu tấn, tương đương 500 triệu USD); đặc biệt FDI thực hiện tăng 17% so với 2006; FDI cam kết đạt 13 tỷ USD – cao nhất từ trước đến nay 2.
Có thấu hiểu hết mọi mất, được của 32 năm đầu tiên sau khi giành được độc lập thống nhất để đi tới thành quả hôm nay, mới biết rõ được chặng đường đã qua và biết được hiện nay đất nước ta đang đứng ở đâu.
Năm 2007 – một năm quả là thời gian quá ngắn để nói lên điều gì, tuy nhiên có thể nhận xét: Năm đầu tiên là thành viên WTO của VN là xuôn xẻ, mặc dù còn rất nhiều chuyện hệ trọng phải bàn. Nhìn vào những việc đã làm được: Rõ ràng với tư cách mới này, Việt Nam năm 2007 Việt Nam tăng thêm được sức phát triển năng động của mình, đồng thời đã tạo ra được một vị thế quốc tế mới và một bước đột phá về kinh tế đối ngoại.
Đặc biệt là những mối liên kết mới trong quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa được thiết lập trong những chuyến viếng thăm chính thức của các vị lãnh đạo nhà nước ta, cũng như thông qua các đoàn chính giới và doanh nhân nước ngoài vào thăm Việt Nam trong năm 2007 đã mở ra một không gian mới, với nội dung mới ở tầm cao hơn cho hợp tác song phương, đa phương. Có thể nói lần đầu tiên kể từ sau năm 1975 Việt Nam đứng trước một triển vọng chưa bao giờ có trong việc mở rộng các mối quan hệ hữu nghị và hợp tác trên quy mô toàn cầu, đặc biệt là với tất cả các đối tác lớn nhất của nền kinh tế thế giới.
Tính riêng các dự án kinh tế đạt được trong những chuyến viếng thăm này đã vượt 50 tỷ USD, bao gồm những ngành kinh tế rất thiết yếu đối với thời kỳ phát triển sắp tới của Việt Nam như: kết cấu hạ tầng, sản phẩm công nghiệp mới, sản phẩm công nghệ cao, dịch vụ tài chính ngân hàng.., tất cả là những cam kết với các nước phát triển. Thực tế này đòi hỏi bản thân nước ta phải tự vươn lên như thế nào để những dự án này sẽ mở đường cho sự hợp tác ngang tầm với tiềm năng của đất nước và bối cảnh cho phép của bên ngoài.
Dựa trên những gì đã làm được trong năm 2007, Quốc hội khóa XII tại kỳ họp thứ 2 đã thông qua mục tiêu phấn đấu năm 2008 sẽ vượt cái ngưỡng quốc gia có thu nhập thấp tính theo đầu người. Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng phát biểu đầy tự tin: mục tiêu tăng trưởng 8,5 – 9% của 2008 là khiêm tốn, tận dụng tốt những điều kiện có trong tay còn có thể vượt, có ý kiến tính toán đến khả năng tăng trưởng 2 con số…
Nếu nhìn nhận tình hình theo một hướng khác, phải chăng có thể đưa ra kết luận:
Việt Nam hiện nay có đầy đủ những điều kiện bên trong và bên ngoài tốt nhất vừa đòi hỏi, vừa cho phép mở đường đi vào một thời kỳ phát triển mới: Chất lượng hơn, bền vững hơn, giá trị gia tăng cao hơn – chủ yếu dựa trên phát huy yếu tố con người và hội nhập?
Đây mới chính là vấn đề trung tâm của năm 2007, cần được xem xét từ mọi khía cạnh.
Những cái mới so với trước
Ngoài vị thế mới trên trường quốc tế sau khi Việt Nam được bầu làm ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an, kinh tế Việt Nam năm 2007 có 3 đặc trưng mới: thị trường vốn trong nước phát triển nhanh, thu hút FDI mạnh, khả năng mở rộng xuất khẩu và đầu tư ra nước ngoài ngày càng lớn.
Khai thác và phát huy mạnh mẽ 3 đặc trưng mới này, sẽ tạo ra động lực to lớn cho kinh tế phát triển mạnh cả về lượng và chất. Chính những thành tích mọi mặt đạt được, cùng với 3 đặc trưng mới này đòi hỏi:  Phải chuyển mạnh sang thời kỳ từ lợi thế so sánh chủ yếu dựa trên lao động rẻ và khai thác tài nguyên, môi trường – gọi là phát triển theo chiều rộng, sang thời kỳ tạo ra lợi thế so sánh mới chủ yếu dựa trên phát huy nguồn nhân lực và khai thác hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa – thời kỳ phát triển theo chiều sâu. Đòi hỏi này là tất yếu khách quan vì sau chặng đường 22 năm tình hình bên trong và bối cảnh bên ngoài đã thay đổi sâu sắc:
a. quy mô nền kinh tế nước ta ngày càng lớn (đạt tới đỉnh cao của phát triển theo chiều rộng),
b. nguồn lực trong và ngoài đưa vào nền kinh tế nước ta tăng nhanh,
c. nền kinh tế nước ta có thị trường ngày càng mở rộng trong và ngoài nước, ngày càng nhiều đối tác mới tầm cỡ quốc tế,
d. cạnh tranh hàng dựa trên lao động rẻ và chất lượng thấp ngày càng lợi bất cập hại – nhất là do giá cả nguyên nhiên liệu và sự trả giá về môi trường; trong khi đó thị trường ngày càng bão hòa những mặt hàng này.

Ngay trước mắt, trong những năm tới nếu không tạo ra được sự phát triển kinh tế – xã hội hiệu quả hơn và bền vững hơn, hệ quả sẽ rất khắc nghiệt: Sau khi khai thác cạn kiệt các yếu tố phát triển theo chiều rộng, thời kỳ phát triển với tốc độ cao như hiện nay có thể ngắn lại đáng kể, đất nước sớm chồng chất nhiều vấn đề nan giải mới, mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 khó mà thực hiện được.

Thực tế nêu trên tất yếu đòi hỏi phải nâng cao chất lượng sản phẩm và đi vào những sản phẩm mới, với nhiều hàm lượng công nghệ và dịch vụ hơn, với giá trị gia tăng cao hơn. Ví dụ, ngay cả việc tiếp tục xuất khẩu những mặt hàng truyền thống như thủy sản, nông phẩm, hàng may mặc.., song rõ ràng trong những năm tới nếu những sản phẩm này không được nâng cao chất lượng mọi mặt và dịch vụ,  thì giữ được thị trường và khách hàng cũ đã khó, đừng nói gì đến mở rộng. Nhưng quan trọng hơn nhiều vẫn là phải sớm tìm đường đi vào những sản phẩm mới có hàm lượng công nghệ và dịch vụ cao hơn.
Việc tạo ra những sản phẩm mới như thế còn vô cùng bức bách ở chỗ nó là nội dung chủ yếu của những cam kết hợp tác mới giành được trong năm nay và triển vọng của những năm tiếp theo  – bởi lẽ: ngoại trừ những kẻ chụp giựt, đánh quả, không đối tác nào có tầm cỡ lại thừa tiền và công sức lựa chọn nước ta là bạn đồng hành chỉ để sản xuất ra các thứ hàng đồ đồng nát.
Hơn thế nữa, là một quốc gia có dân số đứng thứ 13 thế giới, đất hẹp người đông, ở vào vị trí địa lý kinh tế và chính trị đầy thuận lợi bậc nhất cũng như thách thức bậc nhất, Việt Nam sẽ là một đất nước ra sao? – tất cả  tùy thuộc vào việc nước ta từ nay lựa chọn phát triển theo hướng nào? Trước đây 22 năm còn có thể trì hoãn câu trả lời phải đi tìm này, nhưng bây giờ không thể!
(a) Nói về quy mô nền kinh tế: Ngay trước mắt, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cho thời kỳ 2006-2010 dự kiến sẽ đạt trên 140 tỷ USD, trong đó vốn nước ngoài (FDI+ODA) dự kiến trên 50 tỷ USD, so với các chỉ số này của thời kỳ 2001-2005 là 100 tỷ và 30 tỷ. Chí ít về mặt số học, quy mô nguồn lực đưa vào nền kinh tế thời kỳ 2006 -2010 lớn hơn thời kỳ 5 năm trước đó 1/3. Theo Vietnam Economic News Online 19-10-2007, vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Danh mục dự án quốc gia gọi vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thời kỳ 2006 – 2010 với tổng số 163 dự án, ước tính 61 tỷ USD, nghĩa là quy mô nền kinh tế có thể còn lớn hơn nữa…
Trong 22 năm qua dân số nước ta tăng khoảng 15 triệu người; nền kinh tế nước ta tính theo GDP năm 2007 ước tính lớn gấp 6 lần năm 1986; quan hệ kinh tế đối ngoại năm 2007 – ví dụ tính theo kim ngạch xuất nhập khẩu – lớn hơn khoảng 60 lần năm 1986 3… Thiện chí hay không thiện chí, không ai có thể bác bỏ thành tựu hiếm hoi này, mặt khác cũng không nên để cho những lời khen ngợi quá mức quyến rũ và làm cho mê ngủ. Sự thật là từ những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX đến nay trên thế giới chỉ có Trung Quốc và Việt Nam là hai nước đang phát triển đông dân đã giành được những kết quả như thế trong quá trình chuyển đổi. Nhưng xin đừng giây phút nào quên: So với cả thế giới nước ta vẫn còn thua kém rất xa trên nhiều phương diện.
Thành tựu tự nó đặt ra những vấn đề mới, những thách thức mới: Xin các chuyên gia thống kê làm giùm con tính so sánh trong quãng thời gian 22 năm này riêng kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật và những tiện ích công cộng khác đã tăng lên được bao nhiêu? đã chuẩn bị được bao nhiêu cho 5 năm tới, 10 năm, 20 năm tới? Có cách nào tính thử xem hay so sánh nguồn nhân lực và chất lượng của nó cũng như khả năng quản trị quốc gia của nước ta trong 22 năm này đã tăng lên như thế nào? Trong khi đó kinh tế nước ta đang phải đối mặt với sự thật hiển nhiên:  giá trị gia tăng trong sản phẩm và hiệu quả kinh tế nói chung của Việt Nam thua tất cả các nước trong nhóm ASEAN6 (trong 5 năm vừa qua chỉ số ICOR của những nước này thường là 3, của Việt Nam là 4 – 5, lạm phát của Việt Nam có chỉ số cao nhất, hơn cả Trung Quốc…).  Đứng trước tình hình như thế, giữ nguyên sự phát triển theo chiều rộng hoặc cải tiến không đáng kể lợi thế so sánh hiện có, đồng nghĩa với kéo dài và mở rộng thêm lạc hậu, nhân thêm những yếu kém trước tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Hơn nữa, từ nay trở đi nước ta sẽ phải hoạt động trong những lộ trình ngày càng cao hơn của khung khổ WTO và gánh vác trách nhiệm ủy viên không thường thực của HĐBALHQ, tầm suy nghĩ và việc làm phải thay đổi theo hướng này.
(b) Nói về nguồn lực đưa vào nền kinh tế nước ta ngày càng lớn: Các số liệu về vốn đầu tư trong nước, về FDI, các dự án đã cam kết với nước ngoài nêu trên, sự phát triển hiện nay của thị trường vốn – đó là những dữ liệu cho phép lượng hóa khối lượng ngày càng lớn các nguồn lực đưa vào nền kinh tế nước ta hiện nay và cho những năm tới. Bản thân sự tăng vượt bực khối lượng các nguồn lực này đòi hỏi gay gắt phải chuyển sang chất lượng phát triển mới; yêu cầu cạnh tranh và yêu cầu hội nhập làm cho đòi hỏi này càng trở nên gay gắt. Nền kinh tế sẽ đi về đâu nếu với khối nguồn lực mới này – ví dụ làm ra nhiều than hơn nữa, nhiều hàng gia công may mặc hơn nữa, nhiều gạo, cà phê, cá..? Với quy mô lớn, sản phẩm chủ yếu dựa trên lao động cơ bắp và tài nguyên thiên nhiên càng mất lợi thế cạnh tranh, sẽ đem lại những hệ quả khủng khiếp: sản xuất những mặt hàng này đã tới trần, không thể mở rộng thêm, giá trị gia tăng của sản phẩm rất thấp, ngày càng thấp (vì tiền lương và chi phí sản xuất ngày một tăng), cũng không thể sử dụng hết các nguồn lực hiện có để đưa vào (input) nền sản xuất này, sẽ dẫn tới nền kinh tế chết vì lạc hậu, ách tắc và bội thực.
Các số liệu nêu trên liên quan đến quy mô các nguồn lực mới của nền kinh tế chưa tính tới nguồn nhân lực ở nước ta ngày càng lớn và năng suất lao động ngày càng cao, khả năng ứng dụng những thành quả mới của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ ngày càng phát huy, khả năng phát triển cộng hưởng do giao lưu kinh tế ngày càng thông xuốt hơn trên thị trường nội địa và trên thế giới – bao gồm cả khả năng huy động tăng lên không ngừng các nguồn lực trong nước và nước ngoài trong quá trình tiến triển của hội nhập.
(c) Nói về thị trường ngày càng mở rộng cho nền kinh tế nước ta : Ngoài những điều đã trình bày bên trên, cần đặc biệt lưu ý đến hiện tượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế có liên quan đến hướng ngoại trong hầu hết các nước phát triển và trong các nền kinh tế lớn – hiện tượng outsourcing (tạm dịch: khai thác các nguồn lực bên ngoài). Hiện tượng này nổi lên từ một vài thập kỷ nay và ngày càng bành trướng, càng tăng tốc, nhất là từ khi nền kinh tế Trung Quốc trỗi dậy trở thành công xưởng của thế giới.
Có thể quan sát hiện tượng này rất rõ nét tại các nền kinh tế Mỹ, Nhật, EU và một số nền kinh tế khác như Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan… Việt Nam đang là một quốc gia, một nền kinh tế trở thành một trong những điểm ngắm để hướng tới của hiện tượng outsourcing này. Hiện tượng này còn liên quan mật thiết với yêu cầu các nền kinh tế lớn đang muốn đảy mạnh đa dạng hóa thị trường đầu tư để xan xẻ hay cân bằng các mối rủi ro kinh tế và chính trị.
Có thể nói toàn bộ sự phát triển trình bày trên là một thời cơ lớn và đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với Việt Nam.
Xin thử hình dung: Giả thử khai thác tốt tình hình trên, ví dụ Việt Nam sẽ là  một nền kinh tế cung ứng một cách tin cạy những sản phẩm mà nền công nghiệp Nhật cần chuyển dịch ra nước ngoài, trở thành một nền kinh tế có những mối quan hệ mật thiết (gần như quan hệ hữu cơ) với nền kinh tế Nhật… Việt Nam sẽ làm được như thế với một số nền kinh tế lớn khác nữa (kể cả Trung Quốc, nếu được 4), kết quả sẽ là: Việt Nam tự tạo ra cho mình một sức phát triển năng động rất đáng mơ ước, với một vị thế kinh tế và chính trị hoàn toàn khác so với hiện nay. Những dự án hợp tác lớn dành được sự cam kết trong năm 2007 hé mở khả năng đáng mơ ước này. Tuy nhiên, nếu để cho Việt Nam trượt ra ngoài điểm ngắm của quá trình outsourcing đang diễn ra, (ví dụ để điểm ngắm này rơi vào Thái Lan), hệ quả sẽ không chỉ là bị giam hãm mãi trong sự bất lực “ta về ta tắm ao ta”, mà nước ta còn phải hứng chịu số phận của kẻ đứng ngoài cuộc trên bàn cờ kinh tế và chính trị của thế giới –  kẻ trong tay không có sức mạnh đáng kể để mặc cả với thiên hạ, vận mệnh đất nước ta sẽ bị các thế lực lớn trên thế giới trao tay buôn bán với nhau trên đầu chúng ta như đã từng xảy ra trong quá khứ thời chiến tranh lạnh. Ngày nay “số phận” này nếu phải hứng lấy, sẽ còn hẩm hiu gấp nhiều lần, mọi người đều hiểu vì sao!
(d) Nói về những cái bất lợi (disadvantages) của phát triển theo chiều rộng trong nền kinh tế nước ta hiện nay: Cái nghèo hiện hữu của đất nước mới chỉ là câu chuyện trước mắt.
Theo cách nhìn con người là trung tâm và là mục đích của sự phát triển, điều tối quan trọng là sau 32 năm hòa bình, trong đó có 22 năm đổi mới, nguồn nhân lực cả nước vẫn còn tới 70% sống trong nông thôn và chủ yếu với nền nông nghiệp còn lạc hậu; điều này có nghĩa nguồn lực quý báu nhất của quốc gia chưa được giải phóng. Không gì nguy hiểm hơn một cách lâu dài và toàn diện cho đất nước nếu không sớm khắc phục được thực trạng này. Liên quan mật thiết đến con người là chất lượng nền kinh tế còn rất thấp, lợi ích con người được hưởng thụ – trước hết là những người lao động ở nông thôn cũng như thành thị – còn rất ít so với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, cái giá phải trả cho môi trường xã hội và môi trường tự nhiên rất lớn.
Nước ta đang có nghịch lý nguồn nhân lực rất dồi dào, nhưng lại thiếu gay gắt nguồn nhân lực có kỹ năng lao động cao, trong khi đó lại chưa xử dụng được tối ưu nguồn nhân lực đã qua đào tạo. Tình hình nay khiến cho lợi thế lớn nhất của nước ta không phát huy được, thậm chí đang nảy sinh nhiều vấn đề xã hội lớn – trước hết là việc làm. Nhìn về lâu dài, trong môi trường thế giới ngày nay, nếu nước ta không phát triển tốt nguồn nhân lực, nếu nước ta không tạo ra được môi trường kinh tế – chính trị – xã hội thuận lợi cho sự phát triển của con người tự do, chảy máu chất xám và di cư lao động sẽ là bất khả kháng, tới mức nào đó nguyên khí quốc gia suy vong, đất nước sẽ cạn kiệt sinh lực không khác gì lắm nguy cơ mất nước. Không thể coi thường nguy cơ này ngay từ bây giờ 5.
Hơn nữa, nước ta đang đứng trước tình hình: Xu thế toàn cầu hóa đang ngày càng thúc đẩy mạnh mẽ sự giao lưu đan xen lẫn nhau giữa các nguồn lực vốn, công nghệ và lao động trên thế giới theo hướng ngày càng hình thành các “chuỗi” và “mạng” cung ứng sản phẩm và dịch vụ trên thị trường toàn thế giới. Trong tình nhình như vậy, các “chuẩn” của “chuỗi” và “mạng” sẽ ngày càng nhiều và luôn luôn thay đổi, cạnh tranh để chiếm một vị trí tốt trong “chuỗi” và “mạng” sẽ càng gay gắt. Ngày nay sẽ là hiểm họa cho nền kinh tế của quốc gia nào đứng ngoài các “chuỗi” và “mạng” như thế, dù nó lớn như thế nào.
Mặt khác, bên cạnh thể chế quốc tế WTO, thể chế  song phương trong khung khổ Hiệp định thương mại tự do (FTA – Free Trade Agreement) đang tiếp tục lan rộng tại các châu lục. Đồng thời đang chớm xuất hiện những hợp tác mới của phạm vi khu vực như ở Đông Á, châu Mỹ Latinh, hợp tác giữa các nước lớn Trung Quốc – Nga – Ấn Độ. Toàn bộ sự phát triển này sẽ đặt ra nhiều rối rắm mới. Trong tình hình phức tạp như thế, tiêu chí thế nào là một “nước công nghiệp theo hướng hiện đại” vào thời điểm năm 2020 mà nước ta đang mong muốn chắc chắn sẽ ngày càng ít phụ thuộc hơn vào mức độ sắt thép, điện đóm, đường xá, thu nhập… tính theo đầu người, mà trước hết ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng nước đó mở rộng thị trường đến mức nào, chiếm lĩnh được những vị trí thỏa đáng ra sao trong các “chuỗi” và “mạng” của nền kinh tế toàn cầu. Nghĩa là đã đến lúc không thể dùng các tiêu chí phấn đấu nước ta tự đặt ra cho mình khi xây dựng chiến lược công nghiệp hóa – hiện đại hóa cách đây khoảng 20 – 30 năm!
Toàn thế giới hiện nay đang loay hoay với cái “công xưởng của cả thế giới”. Trời đất sinh ra nước ta ở sát nách cái “công xưởng của thế giới”, nước ta lựa chọn cho mình chỗ đứng nào thích hợp trong tình hình này? Câu trả lời đáng mong muốn nhất phải chăng nên là: Đặt mục tiêu phấn đấu trong vòng vài ba thế hệ, với ý chí như rời núi lấp biển, phấn đấu xây dựng bằng được một Việt Nam phát triển như một dạng Singapore trên bán đảo Đông Dương – một cầu nối giữa các nền kinh tế trong khu vực và liên khu vực. Sự lựa chọn khác còn lại là hít khói bụi và trở thành bãi thải.
Về lâu dài, cần mạnh dạn nhìn nhận Việt Nam có lợi thế lớn hơn Singapore. Về lâu dài, sự phấn đấu nêu trên còn là phương thức tạo ra thế đứng cần phải có cho nước ta trong tình hình mới: Việt Nam trở thành đối tác của cả thế giới, cả thế giới là đối tác của Việt Nam. Đứng cạnh cái “công xưởng của cả thế giới” thì cần lựa chọn vị thế như vậy. Đường lối đối ngoại của nước ta là bạn với mọi quốc gia vì hòa bình, hữu nghị và hợp tác, song đường lối này chỉ khả thi khi ta có thực lực để trở thành một đối tác như thế, bởi vì tất cả những thứ nước ta rất mong muốn này không ai cho không cả.
Trong trường hợp trên thế giới xảy ra một chấn động mạnh không lường trước được (dưới dạng một backlash), ví dụ do một tình huống bất khả kháng nào đó gây ra (một “force majeure” – giá dầu lửa tăng vọt, đồng đô-la Mỹ suy sụp, một cái bong bóng nào đó – giả dụ trong lĩnh vực ngân hàng –  trong cái “công xưởng của thế giới” nổ tung, sự đổ vỡ của tình hình Trung Đông, mâu thuẫn mới giữa các “cực”, thiên tai hay dịch bệnh vượt quá khả năng kiểm soát, nạn khủng bố…), tình hình sẽ còn phức tạp hơn nữa. Song dù thế nào, ở vào vị thế của nước ta, trong một thế giới ngày càng có nhiều vấn đề phức tạp mới như vậy, lựa chọn cho quốc gia mình một vai trò có thể ai cũng cần đến cho hòa giải, một vai trò có ích cho giải pháp là đáng mong muốn nhất cho chính mình và cho thiên hạ. Muốn được như vậy, việt Nam phải là một quốc gia có thực lực và bản lĩnh. Ngày nay, đối sách với  mọi mâu thuẫn hay thách thức từ thế giới bên ngoài tác động vào nước ta không phải là sự lựa chọn phương thức lấy nước này đối trọng với nước kia để cân bằng tình thế. Mà hãy lựa chọn trí tuệ và ý chí phấn đấu trong sự đồng thuận dân tộc cao nhất làm đối trọng cho mọi vấn đề thế giới bên ngoài đặt ra cho nước ta, với tinh thần là đối tác của cả thế giới.
Thực tế trình bày trên cho thấy bối cảnh trong nước và thế giới đặt ra những dữ kiện hoàn toàn mới, đó là cuộc sống, không nằm trong nghị quyết nào cả, nhất là từ năm 2007. Con đường chuyển sang một giai đoạn phát triển mới của đất nước đã mở ra. Thực tế này đặt ra yêu cầu gắt gao phải nhìn nhận lại toàn diện con đường đi lên phía trước của nước ta đã được ghi trong các Nghị quyết các Đại hội Đảng, nhất là chặng đường dự kiến sẽ đi cho tới những năm 2020 –  không phải là để xem xét nước ta tiến nhanh hay tiến chậm, vấn đề này sẽ bàn sau vào một dịp khác, mà trước hết là để không lại rơi vào tình cảnh tụt hậu hẳn một giai đoạn phát triển của thế giới – nguyên nhân chính đã dẫn đến mất nước cách đây gần hai thế kỷ.

II. Thành tựu đạt được và thời cơ trong tay đang làm cho những yếu kém vốn có trở nên gay gắt hơn
Năm 2007 cũng nổi lên một vấn đề lớn khác: Trong tình hình mới, các yếu kém vốn có từ nhiều năm của nước ta càng bộc lộ rõ, nhiều yếu kém đã đi tới điểm “nóng”, có điểm trở nên rất “nóng”.
Cái “nóng” của quán tính ứng phó
Yếu kém đáng nêu lên nhất là quán tính ứng phó – đối với thời cơ cũng như đối với thách thức – nghĩa là thụ động, phản ứng theo lối mòn, ít sáng tạo, chưa ráo riết chuyển sang cách ứng xử của một thành viên WTO.
Đối với thuận lợi hay cơ hội mới, quán tính ứng phó thể hiện rõ nét nhất theo kiểu: “tranh thủ được gì làm nấy”. – ví dụ năm 2007 còn thu hút quá nhiều nhiều dự án FDI nhỏ, chủ yếu với mục đích “tăng GDP địa phương”, giải quyết vấn đề việc làm tại chỗ, lấp chỗ trống cho khoảng 40 – 50% diện tích chưa sử dụng của các khu công nghiệp… Cách làm như vậy đương nhiên ít nhiều thụ động trước  tác động của kinh tế thế giới, coi nhẹ những đòi hỏi trong định hướng chiến lược của nước ta về công nghệ, môi trường, nguyên liệu… Không ít dự án trong số này nếu có chính sách tốt có thể dành cho đầu tư trong nước. Tại diễn đàn lãnh đạo các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp Đông Nam Á họp cuối tháng 8-2007 có Ấn-độ và Trung Quốc tham dự, Việt Nam chưa được liệt kê vào mạng các quốc gia sản xuất của khu vực, đến nay chưa có một doanh nghiệp Việt Nam nào đứng vào được trong một “chuỗi” cung ứng sản phẩm và dịch vụ của khu vực hoặc trên thế giới – nghĩa là Việt Nam vẫn chỉ là một nước gia công. Tình hình này “nóng” đến mức có nguy cơ biến nước ta mãi mãi là kẻ làm thuê!6, kéo dài tình hình này không phù hợp với mục đích ta gia nhập WTO.
Quán tính ứng phó còn thể hiện theo phong cách “xử lý tình thế”. Ví dụ dễ thấy nhất là ngoại tệ dồn về nhiều, phải bỏ nội tệ ra mua khoảng 7 tỷ USD đã góp phần nhất định vào việc đẩy lạm phát lên, đồng thời thiếu hẳn kế hoạch sử dụng nguồn ngoại tệ thu vào được sao cho sinh lời tối ưu cho nền kinh tế 7.
Ngay sau đó chính phủ đã cảm nhận được phản ứng tức thì của lạm phát. Tuy nhiên trong xử lý, chính phủ thiên về dùng những biện pháp hành chính (kiềm chế giá săng, giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng…), kết quả đạt được không như mong muốn. Những tháng cuối năm lạm phát đã tới mức “nóng” – hết năm có thể bằng hoặc vượt chỉ số tăng trưởng kinh tế, đang trở thành gánh nặng lớn đối với tầng lớp dân cư có thu nhập thấp, đảy lùi đáng kể những nỗ lực xóa đói giảm nghèo 8. Chính phủ đã phải tính đến những biện pháp vỹ mô 9.
Thị trường chứng khoán phát triển mạnh liên quan mật thiết đến “sốt bất động sản” (không loại trừ sự tham gia của hoạt động “rửa tiền”), một tình huống khó lường trước và mang nhiều đặc thù phải xem xét từ những chính sách kinh tế vỹ mô. Song cách giải quyết đang thiên về tìm kiếm những biện pháp ứng phó trước mắt nhằm chống đầu cơ bất động sản (ví dụ tăng thuế sử dụng đất đai và chuyển nhượng bất động sản), thay vì cần tập trung nỗ lực vào việc tìm ra những công cụ vỹ mô khác tạo nguồn cung mới để thu hút những nguồn tiền nóng từ những cơn sốt của thị trường bất động sản. Trong khi đó hạ nhiệt giá đất nói chung ở Việt Nam đang là một vấn đề “rất nóng”, nhưng đến nay chưa có một phương sách khả thi nào được đề ra.
Thị trường vốn trong nước phát triển nhanh là một bước phát triển mới quan trọng, song sẽ rất dễ trở thành vấn đề “nóng” nếu không chủ động có những chính sách thông minh của nhà nước nhằm kiểm soát chặt chẽ sự vận động của các dòng vốn – đặc biệt là trước tình hình các tập đoàn kinh tế quốc doanh đang có xu hướng dùng thế và lực của mình nhảy vào thị trường vốn, thị trường bất động sản, hoặc thậm chí đang lăm le chiếm lĩnh trận địa lập ngân hàng hay công ty tài chính riêng cho mình. Thụ động ứng phó với thực trạng này, tới mức nào đó tình hình sẽ có thể là “bom” chứ không còn là “nóng” nữa, ngay từ bây giờ phải rất cảnh giác!10
Nhìn chung những lúng túng của Chính phủ vấp phải trong năm đầu tiên của thời kỳ phát triển mới –  năm 2007 – trong các vấn đề tài chính tiền tệ – đặc biệt là vấn đề lạm phát, thị trường vốn và thị trường bất động sản… một mặt cho thấy tình hình có nhiều vấn đề khó lường trước, rất khác với các dự báo ghi trong nghị quyết – tình hình này là lẽ tự nhiên nhưng phải hết sức chú ý để phản ứng và xử lý kịp thời; mặt khác báo hiệu sẽ có những thách thức lớn hơn và phức tạp hơn đối với khả năng điều hành của chính phủ trong những năm tới, bởi vì tính chất phát triển và sự vận động của nền kinh tế có nhiều điểm khác trước.
Cái “nóng” trong quy hoạch phát triển
Một tồn tại cố hữu là tính quy hoạch chưa cao nên xảy ra tình trạng nhiều dự án kinh tế bị tồn đọng hoặc triển khai chậm – nhất là do các khâu đền bù giải tỏa đất đai, hoặc do những điều kiện cung ứng bất cập (đường, điện, nước, nguồn nhân lực thích hợp…), có những công trình trở nên “đắt” nhất thế giới. Trong khi đó vì thiếu hụt nhiều thứ khác, trước hết là thiếu quy hoạch, nên nhiều dự án FDI quan trọng đành bỏ lỡ hay tạm “gác lại”. Nguồn vốn có thể huy động được từ thị trường trong nước và từ kiều hối tăng nhanh, nhưng thiếu các kênh và các dự án đủ sức hấp dẫn những nguồn vốn này vào các hoạt động kinh tế, trong khi đó nhiều dự án có sẵn lại thiếu vốn – chủ yếu vì ít hấp dẫn hoặc tính khả thi thấp.
Sâu xa hơn nữa, sự hẫng hụt của quy hoạch phát triển, của quy hoạch tổng thể đã “nóng” tới mức làm cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội nói chung và chiến lược công nghiệp hóa – hiện đại hóa nói riêng mang nặng tính chất của từng kế hoạch 5 năm với những thay đổi và sự nhấn mạnh khác nhau của từng thời đoạn, không còn giữ được tính liên tục với đường nét rõ ràng của một chiến lược, không giữ được tính tập trung vào một hướng phát triển – ví dụ hướng phát huy ưu thế lớn nhất của đất nước là con người và tận dụng tình hình hội nhập. Thực trạng này có thể dễ dàng nhận thấy ở sự chồng chéo, trùng lặp và tính cục bộ trong các chiến lược ngành cũng như trong các chiến lược phát triển của các địa phương. “Nền kinh tế GDP tỉnh” là một biểu hiện rất đặc trưng của sự phát triển này. Hệ quả là kinh tế cả nước đã là một thị trường thống nhất nhưng tính manh mún và cục bộ vẫn còn khá đặm nét. Tư duy “nhiệm kỳ” hoành hành nặng nề và đang làm cho thực trạng manh mún này “nóng” thêm nữa.
Riêng về quy hoạch phát triển giao thông vận tải và phát triển đô thị để giải quyết ách tắc cũng như để tạo ra sức phát triển năng động mới – đặc biệt là tạo ra sức phát triển hướng ra biển (rộng hơn khái niệm kinh tế biển) – còn đang là vấn đề đại đại sự và hết sức lúng túng, đụng chạm trực tiếp đến tư duy lựa chọn chiến lược phát triển nào. Hình như không một bộ óc nước ngoài siêu việt nào có thể cố vấn cho chúng ta trong vấn đề quy hoạch này nếu như trước đó tự chúng ta chưa lựa chọn cho mình một tư duy, một chiến lược phát triển rõ ràng: Đi vào thời kỳ phát triển mới chủ yếu dựa trên phát huy con người và hội nhập.

Cái “nóng” của lãng phí, tham nhũng
Trước hết hiệu quả chung của cả nền kinh tế còn thấp, chỉ số ICOR ước tính là 4 – 5 – nghĩa là cao nhất trong khu vực; lạm phát cũng cao nhất trong khu vực, trong khi đó tốc độ tăng trưởng kém xa các nước NICs ở vào giai đoạn phát triển như nước ta hiện nay 11. Giá thành xây dựng 1 km đường, một KW điện… nói chung cao hơn giá trung bình của Trung Quốc và các nước trong khu vực. Thực tế này cho thấy ngay tình trạng lãng phí và tham nhũng là rất lớn. Rất tiếc đến nay chưa có những điều tra và so sánh một cách khách quan để đưa ra công luận những con số cụ thể.
Trong so sánh với 125 nước, năng lực cạnh tranh của Việt Nam xếp thứ 74 năm 2005, tụt xuống thứ 77 năm 2006; tình trạng tham nhũng xếp thứ 111 năm 2005, tụt hạng xuống thứ 123 năm 2006, mặc dù Việt Nam hiện nay xếp thứ 6 trong “top ten” thu hút FDI và xếp hạng môi trường kinh doanh được tăng lên 13 bậc. Đấy là những con số cũng phản ánh tình trạng lãng phí.
Báo cáo của Kiểm toán nhà nước  năm 2007 cho thấy con số thất thoát 7600 tỷ đồng trong phạm vi các cơ quan và doanh nghiệp nhà nước và là 9400 tỷ đồng nếu tính cả khu vực an ninh và quốc phòng; tuy nhiên đây mới chỉ là một phần của sự việc (VNN ngày 24-09-2007). Theo một điều tra xã hội học mới đây nhất của Thụy Điển chỉ có 6% người được hỏi ý kiến ở Việt Nam chấp nhận chống tham nhũng, điều này nói lên tính nan giải của vấn đề và sự bi quan của người dân trước hiện tượng tiêu cực này (ở Thụy Điển chỉ số này là 70% – VNN 03-12-2007).
Nghiêm trọng hơn là lãng phí dưới dạng “đầu bài sai”  trong đầu tư nói chung (lựa chọn công trình đầu tư kém hiệu quả, tốn đất đai, trả giá đắt về môi trường, các chương trình kinh tế sai như “1 triệu tấn đường”, “đánh cá xa bờ”…), trong xây dựng cơ bản (không đồng bộ, chắp vá, cầu chờ đường dẫn, đường chờ cầu, cảng chờ đường…), trong giáo dục (các chương trình cải cách), trong nghiên cứu khoa học (các đề tài kém giá trị ứng dụng)… Các đầu bài sai thường có 3 nguyên nhân chủ yếu: (a)hạn chế của tư duy và tầm nhìn, (b)duy ý chí, (c)sự can thiệp của yếu tố chính trị. Những “đầu bài sai” như thế chắc không ít, nhưng đến nay chưa liệt kê ra được. Riêng thất thóat về đất đai thời gian 1994 – 2004 Gs. Đặng Hùng Võ đưa ra con số 70 tỷ USD 12…
Những năm gần đây liên tục thiếu điện (năm 2006 thiếu 1,1tỷ kwh; năm 2007 thiếu 6,6 tỷ kwh, năm 2008 Tập đoàn Điện EVN dự báo thiếu 8,6 tỷ kwh) song từ nhiều năm nay có nhiều dự án FDI lớn về nhiệt điện có tính khả thi cao lại phải nằm chờ – nguyên nhân chính thường được đưa ra để biện minh là chưa đạt được thỏa thuận giá ta bán than và mua điện, cách ta mua điện… Không thể không đặt ra câu hỏi “ta” đây là ai? Các lý lẽ biện minh nói chung thiếu sức thuyết phục…
FDI và các nguồn vốn khác cho phát triển kết cấu hạ tầng rất sẵn sàng (đường sắt cao tốc xuyên Việt, đường tầu điện ngầm cho các thành phố lớn…), nhưng đang thiếu quy hoạch, thiếu dự án, thiếu nhân lực..; có khi còn chưa làm rõ cả quan điểm sơ bộ ban đầu cho sự lựa chọn – ví dụ nên làm ngay toàn bộ, hay làm từng bước hệ thống đường sắt hiện đại Bắc – Nam, thế nào là tối ưu nhất?.. Tất cả chưa có câu trả lời, mà sự lựa chọn nào thì sẽ hệ lụy ấy… FDI cho công nghệ cao cũng đang phải chầu chực: Các khu công nghệ cao Hòa Lạc, Bắc Ninh… triển khai chậm… – hiện tượng “bội thực” dự án vì khả năng “hấp thụ” hạn chế. Đồng thời trong khi đó báo chí rền rĩ chuyện “vốn nước ngoài đang bí đầu ra” (TBKTVN 30-10-2007)…
Phân bổ nguồn lực mọi mặt không tối ưu hóa sự lựa chọn trước sau cũng tạo ra lãng phí lớn, bởi lẽ trí, lực, thời gian đều có giới hạn, cái nào nên làm ngay – ví dụ kết cấu hạ tầng (điện. đường, trường, trạm…), đào tạo nguồn nhân lực, cải cách hành chính.., cái nào có thể để chậm lại dăm mười năm cũng không sao – ví dụ xây mới các trụ sở cơ quan…
Lãng phí còn đẻ ra lãng phí ở chỗ nhiều nơi tiếp tục tình trạng bước trước cản trở bước tiếp theo. Chuyện nhỏ nhất thường xảy ra là làm đường xong lại đào bới lên lắp cống lắp điện. Chuyện lớn hơn là việc tiếp tục phát triển đô thi hướng vào bên trong, việc mở rộng đô thị và phát triển các đô thị vệ tinh trên cơ sở quy hoạch rắm rối đang gây thêm nhiều ách tắc và bất cập mới, đang làm cho bần cùng hóa nông thôn gia tăng…
Cái lãng phí lớn nhất không được nói đến nơi đến chốn là lãng phí về con người, vì nhiệm vụ giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực từ hàng chục năm nay sa đà vào phát triển đại trà và bệnh thành tích. Do vậy mặc dù chi phí của toàn xã hội rất lớn, nhưng kết quả đạt được không tương xứng,  ưu thế lớn của nước ta về nguồn nhân lực không phát huy được, không đón trước được sự phát triển của tình hình nên hiện nay đang nảy sinh hẫng hụt lớn về nguồn nhân lực thích ứng, chất lượng nguồn nhân lực nước ta hiện nay thấp nhất so với 5 nước ASEAN6 và Trung Quốc. Giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay đang tích tụ nhiều vấn đề nan giải lâu năm và chưa tìm được lời giải thỏa đáng 13.
Còn phải kể tới từ nay đến năm 2010 nếu không tạo ra được một trạng thái phát triển mạnh mẽ theo chiều sâu – bao gồm cả đổi mới năng lực điều hành vỹ mô và quản lý toàn bộ đời sống đất nước, sẽ dễ xảy ra lãng phí về cơ hội với những thách thức khó lường.
Những cái “nóng” hàng ngày cũng rất nóng
Nhiều điểm “nóng” khác đã trở nên bức xúc hàng ngày, như: tai nạn giao thông, kẹt xe, vấn đề điện, nước, y tế, nhà ở cho người nghèo, về văn hóa, xã hội…
Nhiều địa phương có các công trình kết cấu hạ tầng xây dựng trước năm 1975 nay xuống cấp hàng loạt, tai nạn dập dình hàng ngày; việc phải cử công an chặn hai đầu cầu Đồng Nai – cửa ngõ đi vào TPHCM –  để giảm bớt lượng xe cùng một lúc có mặt trên cầu phòng ngừa sập cầu bất kỳ lúc nào là ví dụ rợn người.
Trong cả nước xảy ra nhiều vụ khiếu kiện đông người và kéo dài của nông dân, chủ yếu liên quan đến vấn đề đất đai… Cho đến nay chưa có cách gì giảm bớt một cách cơ bản những căng thẳng phát sinh trong quá trình phát triển công nghiệp, đô thị hóa, phát triển nông nghiệp và nông thôn – nhất là vấn đề tạo việc làm và cuộc sống ổn định cho nông dân những vùng phải di dời. Thực trạng này là một trong những nguyên nhân chính gia tăng khoảng cách giàu nghèo và làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội khác.
Liên tiếp trong 2 năm 2006 – và 2007 thiên tai và dịch bệnh xảy ra nhiều và lớn hơn các năm trước với tổn thất lớn, trong đó một phần có nguyên nhân môi trường tự nhiên bị xâm hại quá mức, uy hiếp đáng kể khả năng phát triển năng động của đất nước, tiêu hao nguồn lực tích lũ được và thách thức khả năng xử lý hữu hiệu của bộ máy nhà nước.
Trong những bức xúc hàng ngày, phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội thừa nhận cái khó nhất vẫn là vấn đề cải cách hành chính. Nói thẳng thắn: cái “nóng” nhất của mọi cái “nóng” trong cả nước là khả năng quản trị quốc gia còn nhiều bất cập.
Trong cải cách hành chính, nói về con người: So với chức năng nhiệm vụ của nó, nhân lực của hệ thống hành chính quốc gia – nhất là đội ngũ cán bộ kỹ trị và chuyên môn –  đang là một trong những bộ phận có nhiều yếu kém nhất trong toàn bộ nguồn nhân lực cả nước. Nói về bộ máy: Tình trạng quan liêu tham nhũng và chất lượng bất cập của nền hành chính quốc gia đang là trở lực trực tiếp đối với sự phát triển năng động và bền vững của đất nước. Điều tra mới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI) phối hợp với Dự án Nâng cao Năng lực Cạnh tranh VN (VNCI) cho thấy chỉ số nâng cao năng lực cạnh tranh (PCI) năm 2007 tuy được cải thiện hơn 2006 nhưng vẫn còn nhiều vấn đề: Khoảng 70% doanh nghiệp còn phải trả “phí không chính thức” để cho công việc được chạy; 56% doanh nghiệp cho biết phải có “quan hệ” mới có thông tin cần thiết cho công việc kinh doanh của mình; 44% doanh nghiệp cho thấy quan hệ với cán bộ thuế rất quan trọng; số giờ doanh nghiệp hàng năm phải chi dùng riêng cho việc đóng thuế là 900 – 1050 giờ, cao nhất trong khu vực; tiếp cận với thông tin về đất đai còn rất nhiều khó khăn… Có thể tin rằng các số liệu này mới chỉ là cái mỏm băng nhìn thấy được của cả tảng băng.
Các đánh giá của một số cơ quan nghiên cứu nước ngoài, trong đó Economist Intelligence Unit (EIU), Transparency International (TI).., cho rằng có các nhóm lợi ích chi phối đáng kể hoạt động của các tập đoàn kinh tế – biểu hiện rõ nét nhất là ưu tiên dồn các nguồn lực tài chính và nhiều ưu ái khác cho bộ phận kinh tế này, việc thực hiện cổ phần hóa tại một số đơn vị kinh tế thực ra là tiến hành tư nhân hóa gần như trực tiếp vào túi những người trong nhóm lợi ích, sự bất công gia tăng. Báo chí trong nước có không ít bài phanh phui những hiện tượng này.
Xin hãy quan sát những cái “nóng” khác trong đời sống thường ngày:
• chuyện xảy không hiếm trong bộ máy chính quyền như người thiếu đạo đức được trọng dụng – ví dụ như gần đây nhất là dư luận phản ứng  gay gắt việc ông Đỗ Văn Công nguyên bí thư huyện ủy Tân Uyên/Bình dương – cha của cảnh sát giao thông Đỗ Hoài Minh Phương (múa kiếm tại sân bay Đà Nẵng) vừa mới được bổ nhiệm làm Bí thư Đảng ủy khối dân – chính – Đảng tỉnh 14;
• những sai trái trong đời sống pháp luật  – tiêu biểu là các vụ xử án oan sai, vụ quan thanh tra tham nhũng ngay trong khi làm việc thanh tra (Lương Cao Khải), vụ tòa án Đồ Sơn xử án tham nhũng đất đai như một màn kịch hề vụng về;
• những tội phạm hình sự trong đời sống xã hội – điển hình như vụ nhân viên trường mầm non Lĩnh Nam (Hoàng Mai – Hà Nội) âm mưu đầu độc học sinh cả trường bằng thuốc chuột 3 lần không thành – đáng lo nữa là mọi chuyện rơi tõm vào lãng quên, hay là cuộc sống đã trở nên quá chai sạn?15
• cháu gái Nguyễn Thị Bình bị 21 tuổi chưa biết đọc, bị ngược đãi bằng nhục hình man rợ hàng chục năm trời ngay giữa thủ đô mà xã hội chung quanh khoanh tay còn bộ máy chính quyền thì không hay biết – đây là sự vô cảm hay sự bất lực?16;
• vụ dân quân đánh đòn dã man 4 học sinh lớp 9 tại trụ sở chỉ huy quân sự P. 10 Q. 15 TPHCM để lấy cung chiều 13-11-2007 làm chết tim người đọc, thêm một lần chết nữa là vụ này lại do chính thầy giáo của trường các em yêu cầu 17;
• những hiện tượng xuống cấp trong đời sống văn hóa xã hội và sự bất lực của học tập bồi dưỡng đạo đức cho thế hệ trẻ – điển hình là sử nước thì không thuộc nhưng tên các ca sỹ trên M-TV thuộc vanh vách, vụ video clip  “Vàng Anh”..;
• tình hình trí tuệ và người tài phải lùi bước trước những mối “quan hệ” phức tạp, chưa có được chỗ đứng và tiếng nói lẽ ra phải có trong đời sống mọi mặt của đất nước..,
• mấy ngày nay báo chí rôm rả chuyện cười làm se lòng người trong đối thoại ở Trà Vinh giữa dân và cán bộ liên quan đến tính thu nhập bình quân theo đầu người; có thể diễn đạt: tại bàn tiệc nọ hai người được ăn một con gà, như vậy bình quân mỗi người được ăn nửa con gà, trong đó một người được chén cả con, một người không được miếng nào!..18
• Vân vân…
Tất cả những cái “nóng” ấy trong cuộc sống hàng ngày cho thấy câu hỏi “hoặc là.., hay là..?” đặt ra cho đất nước hôm nay thật như xóc vào gan ruột! Một tâm tư lo lắng cho tương lai đất nước đang lan rộng 19.
Trên con đường công hiệp hóa – hiện đại hóa, những thành tựu đạt được sau 22 năm đổi mới và thời cơ đang có trong tay làm bộc lộ rõ tình hình: kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự còn đang ở mức rất thấp, nếu không xoay chuyển hẳn được tình hình này sẽ là lún sâu không cưỡng lại được vào con đường của sự phát triển hoang dã, sẽ không thể có ổn định bên trong, sẽ lệ thuộc nhiều mặt vào bên ngoài.

III. Chuyển sang con đường phát triển theo chiều sâu
Sau 22 năm đổi mới, đất nước bây giờ đã tạo ra được tình hình: thực lực của bản thân cho phép nắm lấy thời cơ bên trong và bên ngoài để bước sang thời kỳ phát triển mới: Phát huy yếu tố con người và hội nhập. Trước đây 22 năm không thể có tình hình này. Thậm chí cách đây 5 năm cũng chưa thể tạo ra tình hình này, nguyên nhân hàng đầu là vì chưa hội đủ những yếu tố bên trong.
• Nhưng nắm bắt lấy bằng cách nào?
• Bằng cách tiếp tục kéo dài con đường của 22 năm phát triển theo chiều rộng như vừa qua?
Hiển nhiên các giới hạn không được phép vượt qua của sự phát triển theo chiều rộng đã ở ngay sát chân chúng ta – nhìn về bất kể phương diện nào cũng thấy như vậy: đất đai, tài nguyên, môi trường, lao động giá rẻ và trình độ phát triển thấp của nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng, trình độ quản trị quốc gia…  Hiện nay đã xuất hiện những ách tắc, những mâu thuẫn cục bộ không dễ gì khắc phục được về nhiều phương diện. Đi tiếp con đường phát triển như 22 năm vừa qua, sẽ tích tụ thêm mãi những mâu thuẫn nội tại phát sinh ngay trong lòng bản thân quá trình phát triển này của đất nước.
Có thể nói dứt khoát, không một diễn biến hòa bình của thế lực nào thù địch với việt Nam có thể đảo ngược được thành quả độc lập thống nhất đất nước đã giành được của dân tộc ta. Nhưng để cho bất cập và tha hóa đẻ thêm mãi các mâu thuẫn nội tại và ách tắc hiện nay, thì tới một lúc nào đó Độc lập quốc gia trong trường hợp này sẽ biến dạng thành lệ thuộc.
Có thể nói hình ảnh thế này: Sau 22 năm đổi mới, sự phát triển bên trong của nước ta và thời cuộc quốc tế đang đặt nước ta trước ngã 3 đường của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đaị hóa:
• Sẽ tiến tới một nước “NIC” trong tương lai không xa lắm – ví dụ dưới dạng một Việt Nam Hàn Quốc?
• Hay là để cho quán tính tiếp tục chi phối, cuối cùng sẽ đưa nước ta trở thành một quốc gia vẫn là lạc hậu – ví dụ một Việt Nam kiểu như Philippines?20
Mà nếu là một quốc gia nghèo, hèn, lạc hậu, chẳng những sẽ không có nhiều thứ, mà bên trong thì phân tán, chia rẽ, bên ngoài thì bị các thế lực khác nhau xâu xé, đất nước không yên, không thể trở thành một quốc gia có tự trọng, có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế.
Là người việt Nam xin đừng lúc nào quên nước ta từ bao thế kỷ nay có vị trí địa lý, kinh tế, chính trị thuận lợi số 1 và thách thức số 1 –  trong thế giới hôm nay và trong tương lai cũng  vậy. Tạo hóa đặt nước ta vào vị trí này mà! 80 năm mất nước và những hệ quả sau đó có nguyên nhân quan trọng là dân tộc ta đã đứng với tư thế nào trên vị trí tạo hóa trao cho này trong bối cảnh của thế giới đương thời. Cái giá của độc lập thống nhất của đất nước hôm nay đắt lắm, chúng ta vẫn chưa có đủ khoảng cách thời gian, cái tâm và tầm nhìn lường hết được. Vì thế không được phép để cho quốc gia đi tới viễn cảnh trở thành kẻ làm thuê về kinh tế và vong quốc vì lệ thuộc!  Như một mệnh lệnh 21 của đất nước: Đứng trước ngã ba này, phải tìm đường đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển, hiện đại!
Cũng phải nói ngay, lựa chọn đúng và thực hiện đúng sự lựa chọn là hai chuyện khác nhau. Đã 6 thập kỷ trôi qua, cả thế giới thứ ba mới chỉ xuất hiện được vài ba “con rồng”, còn lại hàng chục nước đang phát triển khác tuy đã giành được những bước tiến rất xa, nhưng vẫn chưa thoát hẳn tình trạng các nước nghèo và lệ thuộc, không ít nước vẫn còn ở thời kỳ phát triển hoang dã. Ngay trong ASEAN, các nước như Indonesia, Thái Lan… đã phát triển năng động trong 3 thập kỷ kiên tiếp, nhưng từ hai thập kỷ trở lại đây, nhất là từ 10 năm nay đang giẫm chân tại chỗ; Philippines cũng vậy, và ngày nay chủ yếu vẫn là một quốc gia làm thuê.  Là nước đi sau, nước ta phải ngẫm nghĩ rất nhiều về thực tế lịch sử này. Trước sau bí quyết của các nước thành công vẫn là phát huy yếu tố con người – do xây dựng được hệ thống kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội dựa trên yếu tố phát huy con người.
Một thành tựu quan trọng khác của năm 2007 – tuy còn rất khiêm tốn – nhưng nếu được tiếp tục phát huy sẽ có ý nghĩa sâu xa đối với toàn bộ sự phát triển của đất nước trong tương lai, đó là một số tiến bộ mới trong quá trình dân chủ hóa đời sống mọi mặt của đất nước – trước hết là trên lĩnh vực kinh tế. Có thể đo những tiến bộ mới này qua nhiều giác độ khác nhau, từ giảm bớt một chút thủ tục hành chính phiền hà, cải tiến hệ thống luật pháp theo hướng thân thiện hơn với kinh tế thị trường và phù hợp với những cam kết quốc tế và khu vực, tiến thêm một bước trong tự do hóa thương mại và đầu tư, môi trường kinh doanh năm 2007 được World Bank xếp cao lên 13 bậc, riêng thuận lợi về cấp tín dụng 2006 xếp thứ 80/104 năm 2007 xếp thứ 48/104; có một số biện pháp mới khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân và thực hiện một số biện pháp đảy mạnh kinh tế quốc doanh ra thị trường, cải thiện một số chính sách đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài, tiếng nói của báo chí ngày càng giữ vai trò quan trọng hơn trong sự nghiệp phát triển đất nước…  Thực tế này càng làm rõ: Chỉ có thể thông qua phát huy dân chủ để khơi dạy mọi ý chí và nguồn lực chuyển hướng nền kinh tế sang phát triển theo chiều sâu.

IV. Khắc phục tình trạng “thắt cổ chai”
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và nhiều đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước thẳng thắn nêu ra sự bất cập của kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực kém phát triển và năng lực quản trị quốc gia hẫng hụt. 3 yếu kém này tạo nên tình trạng “thắt cổ chai” kìm hãm sự phát triển năng động của quốc gia. Chiến lược nào hay kế hoạch gì cho trước mắt và cho nhiều năm tới cũng phải bắt đầu từ khắc phục tình trạng “thắt cổ chai” này – đòi hỏi ưu tiên số 1.
Rất đáng huy động trí tuệ cả nước mổ xẻ nguyên nhân mọi mặt để nhận dạng chính xác thực trạng cái “thắt cổ chai” này. Huy động trí tuệ khắc phục cái “thắt cổ chai” này là thực hiện dân chủ có thực chất nhất.
Thực hiện dân chủ ở đây trước hết là thực hiện quyền nói của người dân, của trí tuệ về những vấn đề hệ trọng liên quan đến xóa bỏ cái “thắt cổ chai”. Đứng trước yêu cầu phải thực hiện ưu tiên số 1 này, dân chủ có nội dung vô cùng đơn giản và rõ ràng, có một sức mạnh giải phóng không thể lường hết được! Tuy nhiên, thực hiện quyền này lại đang là việc rất khó, và chỉ có thể khả thi hơn trên cơ sở thực hiện công khai minh bạch, nâng cao dân trí và thường xuyên nâng cao những quyền khác của công dân, trước hết là quyền được thông tin, quyền được nói – để cả nước cùng nhìn thẳng vào sự thật, cùng sẵn sàng chia sẻ mọi khó khăn thử thách, cùng chung một quyết tâm đưa đất nước đi lên.
Yêu cầu khắc phục tình trạng “thắt cổ chai” này đòi hỏi trong năm 2008 cần hình thành được các chiến lược phát triển cho từng vấn đề: (1)kết cấu hạ tầng, (2)nguồn nhân lực, (3)quản trị quốc gia, với những quy hoạch và kế hoạch cụ thể. Có thể nói trong vòng 5 – 10 năm tới và đến năm 2020 phải tiến hành những cải cách lớn cho 3 vấn đề nêu trên, có như vậy mới hy vọng chuyển mạnh sang một thời kỳ phát triển cao hơn và mới có điều kiện thực hiện lộ trình của những cam kết trong khung khổ WTO, tạo ra động lực thực hiện thành công chiến lược phát triển đến năm 2020.
Về kết cấu hạ tầng: Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng cho cả nước là điều kiện hàng đầu để quy hoạch phát triển các vùng kinh tế, quy hoạch phát triển đô thị và nông thôn, tạo điều kiện chuyển nền kinh tế sang chiến lược mới phát triển theo chiều sâu. Một vấn đề bức xúc mới là thiên tai ngày càng gay gắt, những dự báo về thay đổi môi trường tự nhiên do tổn thất tầng ô-zôn của bầu khí quyển liên quan đến nước ta đầy lo ngại, có thể kiểm chứng qua 3 năm gần đây có sự gia tăng rõ rệt của lũ lụt miền Trung và triều cường. Riêng lũ lụt miền Trung năm nay cướp đi 70 sinh mạng và gây thiệt hại ước khoảng 30 nghìn tỷ đồng, tương đương  3% GDP; nếu tính gộp cả thiệt hại năm 2007 do kẹt xe ở hai thành phố lớn và triều cường, tổng thiệt hại lến tới khoảng 4% GDP. Thực tế này đặt ra bài toán nên chăng phải dồn lực trong một số năm tới cho việc phát triển kết cấu hạ tầng, những công trình phòng chống thiên tai, những dự án bố trí lại các khu dân cư… Đây là những vấn đề từ năm 2007 trở đi không thể trì hoãn được nữa.
Ngay trước mắt, những ách tắc về giao thông – đặc biệt là ở TPHCM và Hà Nội phải cần tới 2 – 3 năm mới giải quyết được nếu có phương án xử lý đúng đắn 22.
Việc khắc phục những yếu kém hiện tại trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Nếu làm giỏi mọi việc, dự báo chúng ta có lẽ cũng phải cần tới khoảng 10 năm mới có thể cải cách xong hệ thống giáo dục và đào tạo hiện nay để đi vào một hướng phát triển mới của nguồn nhân lực đáp ứng được những đòi hỏi của đất nước 23. Nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện thành công với sự vận động rộng lớn toàn xã hội tham gia gìn giữ, xây dựng những giá trị nền tảng của đất nước; gắn với việc đổi mới nhiều vấn đề, nhiều chính sách trong hệ thống chính trị theo những kỷ cương của nhà nước pháp quyền – nhất là chính sách dùng người và phát huy con người. Ví dụ: Mọi nỗ lực cải cách hay đổi mới giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực sẽ trở nên vô nghĩa nếu xã hội và hệ thống chính trị còn dung tha chuyện chạy ghế, còn tồn tại chuyện dùng người theo các mối quan hệ, những thủ đoạn học giả bằng thật vẫn còn đất dụng võ… Nói một cách khác, nhiệm vụ này thành hay bại gắn hữu cơ với những đổi mới sâu xa trong xã hội và trong đời sống chính trị của đất nước – và hiển nhiên đây không thể là câu chuyện ngày một ngày hai.
Việc nâng cao được năng lực quản trị quốc gia theo kịp nhịp độ phát triển của đất nước: Lâu nay nhiều nghị quyết của Đảng nhấn mạnh sự cần thiết đổi mới hệ thống chính trị phải theo kịp đổi mới kinh tế. Song nhận thức đúng đắn này khi biến thành hành động cụ thể lại chỉ khuôn vào vấn đề cải cách hành chính, mà đúng ra phải là nhiệm vụ nâng cao năng lực quản trị quốc gia.
Cuộc sống cho thấy chỉ có thể nâng cao năng lực quản trị quốc gia thông qua đổi mới hệ thống chính trị – đây là một tồn tại lớn, đã đến lúc phải đặt lên bàn nghị sự. Rõ ràng việc tiến hành cải cách hành chính với nội dung hạn hẹp như hiện nay và tách rời khỏi hệ thống chính trị nói chung và hệ thống nhà nước nói riêng như đang làm không thể mang lại hiệu quả mong muốn. Các Đại hội Đảng, các dịp tổng kết kết thúc nhiệm kỳ đã đánh giá: nhiệm vụ cải cách hành chính tiến hành chậm, ít hiệu quả, không theo kịp đòi hỏi tình hình… Trong những văn kiện này không hiếm sự phê phán nghiêm khắc những bất cập của bộ máy hành chính quốc gia, có ý kiến nêu rõ cải cách hành chính chỉ có khả năng thành công nếu xuất phát từ đổi mới toàn diện vai trò lãnh đạo của Đảng. Đó là những đánh giá xác đáng. Chỉ cần dựng lên một sơ đồ sự vận hành của hệ thống chính trị, bao gồm cả hệ thống nhà nước, sẽ càng thấy rõ việc nâng cao năng lực quản trị quốc gia cần bắt đầu từ việc đổi mới và nâng cao chất lượng vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền.
Việc đổi mới hệ thống quản trị đất nước đòi hỏi bao nhiêu năm, nhanh hay chậm, thành hay bại, tất cả phụ thuộc vào việc đổi mới triệt để Đảng CSVN trở thành lực lượng tinh hoa của dân tộc để có khả năng thực hiện được vai trò lãnh đạo đất nước; toàn bộ sự vận động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước phải nằm trong khung khổ kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự ngày càng phát triển.
Sau 22 năm đổi mới, tình hình phát triển mọi mặt ở nước ta hiện nay đã đến mức cho phép kết luận: Không xây dựng được một hệ thống quản trị quốc gia hiện đại, sẽ không thể có một Việt Nam công nghiệp hóa theo hướng hiện đại. Đây thực sự là thách thức lớn nhất đối với đảng cầm quyền (xem thêm chú thích 21).
Tình hình và mọi điều kiện đất nước đang có trong tay cho phép nhiệm vụ khắc phục tình trạng “thắt cổ chai” trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển năng động và bền vững của đất nước về mọi mặt, thực hiện được với chất lượng tốt hơn những mục tiêu tăng trưởng và phát triển đã đề ra cho đến năm 2010. Đấy cũng là sự phản ứng quyết liệt và dứt khoát nhất cần phải có trước những vấn đề năm 2007 đặt ra cho đất nước, là hướng phấn đấu đúng nhất, để đất nước ta sẽ không ngoặt vào hướng đi dẫn tới một quốc gia lạc hậu.

V. Trí tuệ, ý chí chính trị và thời gian là quyết định

Chuyển sang thời kỳ phát triển mới như thế nào?
Tiền bạc, nguồn lực vật chất, nguồn lực chất xám có thể huy động được cho phép nước ta chuyển lên thời kỳ phát triển cao hơn có thể nói không thiếu. Hy vọng phần I của bài này đã lý giải được như thế. Song sẽ phải bàn cãi rất nhiều: Huy động chúng bằng trí tuệ nào, với ý chí được thống nhất ra sao? cũng có nghĩa là nhằm vào mục tiêu nào? Đã có sự lựa chọn? Tất cả – ở đây là nhân dân, nhà nước, đảng lãnh đạo – đã thống nhất trong một sự lựa chọn? Và thời gian? Chúng ta nhận thức nó đang là thúc bách, là đang ở ngã 3 “hoặc là… hay là..,”  hay là chỉ là sự tiếp nối bình thường muôn thuở giữa ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai?
Đó phải là câu hỏi của mỗi người và của tất cả mọi người khi cùng nhau chia sẻ nỗi bức xúc: Làm gì để đất nước trở thành một quốc gia phát triển?
Chỉ có thể tìm được câu trả lời khi rà xoát lại và xác định lại tất cả cho phù hợp với tình hình mới, yêu cầu mới.
Ví dụ: Than phát triển mạnh và xuất khẩu nhiều như hiện nay đang phát sinh hệ quả gì? Hàng loạt các mỏ khoáng sản trong các tỉnh biên giới phía Bắc đang được triển khai, sắp tới sẽ là quặng bauxite ở Tây Nguyên, sẽ tiếp tục khai thác để xuất khẩu dầu thô?.. Như thế có phải là sự lựa chọn tối ưu không cho một quốc gia đất hẹp người đông với một vị thế đầy thách thức hay không? Tiếp tục hay không việc có thêm những công trình kinh tế gây ô nhiễm môi trường đến nỗi báo chí đã phải tặng cho cái tên “kẻ giết người thầm lặng” (Tuổi trẻ ngày 29-10-2007 và các số tiếp theo), trong khi đất nước đang xuất hiện những dòng sông “chết”, các làng ung thư..? Chúng ta lựa chọn ngành đóng tầu biển, ngành bột giấy, ngành khai khoáng… là chiến lược dài hạn, hay “giải pháp tình thế”?.. Là nước đi sau có nhất thiết phải chấp nhận tất cả những gì các nước đi trước đang thải loại không?..
Tư duy “nhiệm kỳ” đang là nguyên nhân của nhiều căn bệnh trong chiến lược và quy hoạch phát triển, trong phát huy sức mạnh của nền kinh tế thống nhất, trong công tác tổ chức cán bộ… Tư duy “nhiệm kỳ” là một trong những nguyên nhân sâu xa của tình trạng kẻ ăn ốc, người đổ vỏ, các thế hệ tương lai sẽ phải trả giá. Lối tư duy này đối kháng với lợi ích phát triển chiến lược của quốc gia. Ai không muốn khắc phục tư duy này? Trí tuệ và ý chí nào để cho nó kéo dài sự tồn tại?
Vân… vân…
Không chủ quan tự mãn, thì còn rất nhiều câu hỏi như thế phải đặt ra. Giả thử tìm được câu trả lời đúng, song có gan vượt lên sức ép tâm lý nhiều bề và của chính mình để lựa chọn quyết định đúng không?
Chỉ có cách bám chắc vào thực tế khắc nghiệt của bối cảnh thế giới để quyết định: Là một quốc gia đất hẹp, người đông, có vị trí địa lý kinh tế và chính trị thuận lợi số 1, đồng thời cũng chịu thách thức số 1, nước ta lựa chọn gì cho mình – từ sản phẩm kinh tế cho đến vị thế chính trị quốc tế? Phải làm gì để thực hiện được sự lựa chọn ấy?
Đất nước này là của dân, do dân, vì dân, sẽ có câu trả lời.
Lời kết: Bài học của Đại hội VI
Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đi vào lịch sử là mở đầu thời kỳ đổi mới. Nội dung cách mạng nhất của Đaị hội này là ý chí nhìn thẳng vào sự thật, nhờ vậy đã xác lập được con đường đổi mới, nhờ vậy đã dẫn tới thành quả đất nước giành được như hôm nay. Vì lý do này, bài học quan trọng của Đaị hội VI thường được nhắc tới là thái độ nhìn thẳng vào sự thật. Trên chặng đường đất nước đi vào thời kỳ phát triển mới, bài học này càng có ý nghĩa. Bởi vì nhìn thẳng vào sự thật thì tránh được lạc hậu với sự thật, hơn thế nữa đó là cách nhìn, là tiền đề không thể thiếu cho mỗi quyết định đúng nhất thiết phải có.
Đại hội VI còn một bài học khác quan trọng không kém, cần được nhấn mạnh trong năm 2007: Đừng bao giờ lặp lại tình hình bị dồn đến chân tường mới quyết định đổi mới.
Xin lưu ý, trong 22 năm đổi mới vừa qua có không ít trường hợp đã để cho   cơ hội tuột tay hoặc không được tận dụng được.
Ví dụ, mỗi một lần Đại hội Đảng, mỗi lần bầu Quốc hội mới đều là một cơ hội cực kỳ lớn để giải phóng nghị lực sáng tạo của toàn dân mang lại sức mạnh mới cho đất nước, để đổi mới Đảng, để nâng cao năng lực, phẩm chất của hệ thống nhà nước..; mỗi lần đại hội cấp tỉnh và bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh cũng mang lại những cơ hội như vậy cho mỗi tỉnh… Nếu mỗi lá phiếu bầu trong những dịp như thế có chất lượng và sức nặng đích thực của nó!.. Song tiếc rằng những gì đạt được qua những lá phiếu như thế chưa đủ sức nâng hệ thống chính trị lên ngang tầm đòi hỏi của nhiệm vụ, chưa nói đến những tha hóa mới. Chẳng lẽ lại chờ đợi nước đến chân mới nhảy?
Xem lại tư liệu báo chí, toát lên một thực tế quan trọng: Bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, ký kết Hiệp định Thương mại song phương Việt – Mỹ (BTA), việc gia nhập WTO lẽ ra có thể diễn ra sớm hơn một số năm. Tiếc thay những cơ hội cho phép đạt kết quả sớm hơn đã không được tận dụng – tất nhiên cái giá của sự chậm chạp không bao giờ rẻ.
Đàm phán để gia nhập WTO kéo dài một thập kỷ, song chuẩn bị cho hậu WTO không được bao nhiêu; thị trường vốn trong nước và quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển đột phá, nhưng thiếu vắng sự sẵn sàng cần thiết –  nổi cộm nhất hiện nay  là nguồn nhân lực, dự án khả thi, kết cấu hạ tầng, năng lực quản trị…
Còn bao nhiêu cơ hội khác nữa đang có trong tay không đủ kiên nhẫn chờ đợi sự chậm chạp của chúng ta?
Nhớ lại, tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội của nước ta vào giữa những năm 1980 đã lên tới đỉnh điểm, tác động của bối cảnh quốc tế càng làm gay gắt thêm đến tột độ. Song may mắn thay cuộc sống đã đi trước những bước quyết định: từ hiện tượng Kim Ngọc, đến khoán chui, khoán 10, khoán 100, bù giá vào lương, kế hoạch 3, nguồn hàng của cá nhân những người Việt các “binh chủng” sinh sống tại các nước Liên Xô Đông Âu cũ kiên nhẫn gửi về… Khi công cuộc đổi mới được tiến hành, ngay lập tức một sức sống mới được giải phóng. Yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh quốc tế mới đặt ra cho Đảng tình hình và nhiệm vụ hoàn toàn khác hẳn trước. Không ý thức sâu sắc điều này sẽ là thảm họa.
Lịch sử không nhất thiết lúc nào cũng lặp lại may mắn như thế, cũng không có chữ “nếu”. Song lịch sử nhắc nhở: Đừng bao giờ để xảy ra tình trạng bị dồn vào chân tường mới quyết!
Đấy cũng là lời gửi gắm của năm 2007 cho năm 2008, tất cả cho một quốc gia Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại!
Hà Nội, 20-11-2007

Ý kiến của bạn?
——————————

* Bài viết này đúc kết lại từ bài tùy bút Cảm nhận 2007. Cảm ơn anh Việt Phương đã gợi ý tôi viết lại bài này theo bố cục mới.
2 Tham khảo báo cáo của Thủ tướng Chính phủ về tình hình kinh tế xã hội năm 2007 tại kỳ họp thức 2 Quốc hội khóa XII.
3 Ước tính theo số liệu của Tổng cục thống kê theo thời giá – Nguyễn Trung.
4 Trên thực tế sản phẩm chế biến của Việt Nam bắt đầu len vào ngày càng nhiều trên thị trường Trung Quốc, đã bắt đầu có đầu tư của Việt Nam vào Trung Quốc, đương nhiên với những con số rất khiêm tốn. Hiện nay Việt Nam vẫn là nước nhập siêu lớn của Trung Quốc.
5 Thực tế này đang xảy ra ở Philippines từ hàng chục năm nay và không có cách gì cứu vãn. Ở nước ta, đội ngũ trí thức còn quá mỏng và thiếu, trong khi đó chất xám hiện có chưa được sử dụng và phát huy hết; một ví dụ khác: giả thử  cho đến năm 2010-2015 đào tạo thêm được 20.000 tiến sỹ có chất lượng, nhưng vì những lý do nào đó trong nước không dùng được họ, hoặc số đông được đào tạo ở nước ngoài không muốn trở về nước sinh sống, tình hình phát triển nguồn nhân lực sẽ ra sao? Tham khảo thêm: Nguyễn Trung, “Nguồn nhân lực cho cơ hội phát triển mới” – Tia Sáng số 06-11-2007
6 Tham khảo Vietnam Net 24-08-2007.
7 Tham khảo thêm bài: Dollar’s double blow from Vietnam and Qatar, BST ngày 04-10-2007
8 Diện “đói nghèo” hiện nay ước tính chiếm khoảng 20% dân số (Vũ quang Việt).
9 Tham khảo: Vũ Thành Tự Anh, “6 lý do để lo lắng về lạm phát hiện nay” TBKTSG 8-11-2007; một số cơ quan nghiên cứu nước ngoài cho rằng Việt Nam thực ra đang lạm phát 2 con số. Phải chăng lạm phát cao năm 2007 ít nhiều có những bóng dáng rất kinh điển của những năm 1970 – 1980, nghĩa là do nhiều nguyên nhân tổng hợp lại: Sức đẩy của chi phí, sức kéo của cầu, chính sách tiền tệ (tìm hiểu các ý kiến của Vũ Quang Việt rải rác trong nhiều bài). Hiện nay đang có ý kiến đề cập tính chỉ số lạm phát theo công thức mới, xin miễn bàn ở đây để khỏi lạc đề.
10 Bài học cay đắng nhất của khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 là chính phủ các nước lâm sự mất sự kiểm soát sự vận động của các dòng vốn và để xảy ra những quả “bom” khốc liệt từ thị trường địa ốc và thị trường tài chính; sự đổ vỡ của một số Chaebol Hàn Quốc – điển hình là sự sụp đổ hoàn toàn của tập đoàn Daiwoo có thể được coi như một bài học kinh điển của sự câu kết giữa tập đoàn + quyền lực + tài chính, với sự trả giá khủng khiếp của cả nền kinh tế (Hàn Quốc tự đánh giá: bị kéo lùi 10 năm!). Ở nước ta kiểm soát sự câu kết này khó hơn, để xẩy ra sự câu kết này, tình hình còn nguy hiểm hơn, vì các tập đoàn này thuộc quyền sở hữu nhà nước, nên tự nó có những điều kiện gắn kết hữu cơ với quyền lực nhà nước. Rất nên xem xét lại hoặc thiết kế lại chủ trương cho phép tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước lập các công ty tài chính hay ngân hàng riêng của mình – Nguyễn Trung.
11 Ví dụ, tham khảo một số tài liệu, sách báo, được biết: Hàn Quốc, Đài Loan trong giai đoạn phát triển tương tự như nước ta hiện nay – nghĩa là thời kỳ đạt GDP p.c. khoảng 800 – 1000 USD – chỉ số ICOR thường là >3, đạt tăng trưởng 2 con số hàng chục năm liền, lạm phát khoảng 5 – 6%, song vào thời điểm này kết cấu hạ tầng của Hàn Quốc đã đi trước sự phát triển kinh tế khoảng  5 năm. Cách đây vài năm có tài liệu của chuyên gia nước ngoài cho rằng tham nhũng, lãng phí của Việt Nam hàng năm ước khoảng 3 – 4% GDP hoặc hơn nữa.
12 Xem báo Người Lao động ngày 06-02-2007.
Chú ý: Cho đến nay diện tích đất đai đã được Nhà nước cấp quyền sử dụng chiếm 71% diện tích lãnh thổ quốc gia (trên thực tế – de facto – là giao quyền sở hữu), song Nhà nước vẫn “nghèo” và hầu như không tạo ra được nguồn vốn đáng kể nào từ sự việc này cho việc phát triển kinh tế của đất nước. Cũng có thể nói Nhà nước đã để “mất” một nguồn vốn rất lớn của quốc gia; mặt khác để lại nhiều hậu quả lớn, trong đó có vấn đề giá đất nói chung của cả nước quá cao đang kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. – Nguyễn Trung.
13 Tham khảo: Nguyễn Trung, “Nguồn nhân lực cho cơ hội phát triển mới” Tia Sáng online 15:02:42 01/11/2007,  và  Nguyễn Trung: Suy nghĩ về phát triển nguồn nhân lực ở nước ta – Viet-Studies 10-11-2007
14Xem báo Người Lao động 09-11-2007;  xem thêm các bài  “Tân Uyên, Bình Dương: Xe ông Hai  – “vua” của “xe vua” – Tuổi trẻ, Tuổi trẻ online 26 và 27-08-2007. Tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khó XII một số đại biểu quốc hội chất vấn về tình hình “chạy ghế”…
15 Xem báo Gia đình & Xã hội 05-052007.
16 Xem:  Gặp người giải cứu em Nguyễn Thị Bình, Tiền Phong, thứ Năm, 08/11/2007, 08:48; cách xử lý là cách chức tổ trưởng dân phố và kiểm điểm cơ quan chính quyền phường, quận.
17 Xem Tuổi trẻ ngày 16-11-2007.
18 Đọc: Tuổi trẻ online 21-11-2007.
19 Trong các cuộc tiếp xúc với cử tri đầu tháng 12-2007 ở một số địa phương, Chủ tịch quốc hội Nguyễn Phú Trọng cũng nêu lên câu hỏi đầy tâm tư  của cử tri về vấn đề này.
20 Tham khảo thêm: Nguyễn Trung, “Chỗ đứng của Việt Nam trong thế giới đa cực” – Thời đại mới số 11 tháng 7-2007 (Nếu Việt Nam là một Philippines trong tương lai…). Tuổi trẻ 30-11-2007: Philippines: “Sẽ không có gì thay đổi”
21 Dưới dạng gần như một “postulation”.
22 Xin lưu ý: Nói riêng về kết cấu hạ tầng (hệ thống giao thông, thông tin, điện, nước, thủy lợi…) nếu nước ta giữ tốc độ xây dựng như hiện nay thì tụt hậu khoảng 10 – 15 năm so với Thái Lan hoặc Malaysia; cả hai nước này vẫn chưa được coi là NIC; khoảng cách tụt hậu về hệ thống hành chính quốc gia của ta so với hai nước này cũng khá lớn; khoảng cách GDP danh nghĩa tính theo đầu người hiện nay ta kém Thái Lan khoảng 2000 USD (tính theo PPP là 5300 USD), kém Malaysia khoảng 4300 USD (tính theo PPP là 8300 USD) (tham khảo báo cáo IMF 2006 và 2007, Wikipedia 2006). Xem như thế, sẽ có câu hỏi: Mục tiêu nước ta trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại vào năm 2020 sẽ theo tiêu chí nào?
Xin lưu ý: Đối chiếu giữa một bên là chiến lược công nghiệp hóa – hiện đại hóa được đề ra trong các văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước và một bên là quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra trên thực tế trong xuốt 22 năm đổi mới,  nhất là trong vòng 10 năm trở lại đây, thấy có nhiều điểm không khớp nhau, có nhiều điểm sai, bị cuộc sống lôi kéo đi nhiều hơn là làm kim chỉ nam cho cuộc sống. Tư duy “nhiệm kỳ” và mọi ảnh hưởng của nó (nhất là bệnh “tân quan tân chính sách” của mỗi nhiệm kỳ) càng làm cho chiến lược đã đề ra bị biến dạng hay gián đoạn. Tình hình có  hai điểm nổi bật như sau:  (a)không ít những việc hay mục tiêu định làm thì thất bại hoặc thành công không như mong đợi  (chế tạo cơ khí, công nghiệp nặng, khai khoáng, hợp tác xã kiểu cũ, các xí nghiệp quốc doanh lỗi thời…) –  nguyên nhân chủ yếu là không thực tế, duy ý chí, không theo quy luật; (b)nhiều vấn đề hay mục tiêu không đề ra hoặc không coi là trọng tâm lại phát triển rất  mạnh (sản phẩm chế biến, công nghiệp nhẹ phục vụ xuất khẩu, nông lâm thủy sản, dịch vụ, khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế trang trại…) –  nguyên nhân chủ yếu của những thành công này là hợp quy luật phát triển và khai thác được thế mạnh nội tại, khai thác được hợp tác với bên ngoài. Từ những thất bại và thành công như vậy trong thực tiễn cần đánh giá lại tư duy và phương pháp làm chiến lược với tầm nhìn mới để xác định những bước đi sắp tới.
23 Xin tạm gạt sang một bên vấn đề y tế để bàn vào một dịp khác; xin chưa đặt vấn đề nâng cao nền giáo dục của ta ngang tầm khu vực hay trên thế giới.

 

Nguyễn Trung
Tìm địa điểm Trường
Gọi trực tiếp
Chat Facebook
Chat Zalo

[flipbook id="1"]