Có một thời ở Việt Nam, trong xóm hễ nhà nào có được chiếc tivi trắng đen 14 inch thì đúng là đại gia. Tuy hình ảnh khi mờ khi tỏ, tín hiệu nhạy cảm lúc nắng lúc mưa, nhưng mọi người vẫn vui vẻ chen nhau xem, từ chương trình "Những bông hoa nhỏ" cho các em bé, cho tới những vở cải lương như "Đêm lạnh chùa hoang" cho người lớn, các trận bóng đá World Cup cho thanh niên, hay các bộ phim trứ danh như Tây Du Ký cho mọi lứa tuổi. Một phần tuổi thơ của nhiều người nằm trong cái khung đen trắng ấy.
Sau này nghĩ lại, tôi nhận ra một điều kỳ lạ là ti vi thì trắng đen, nhưng ký ức vẫn có màu. Tôn Ngộ Không áo vàng, Đường Tăng cà sa đỏ, còn đội Hà Lan dẫu mặc áo gì vẫn cứ là "Cơn lốc màu da cam". Không có ai bị mù màu, vì não đã tự khôi phục màu khi xem, rồi âm thầm lưu lại. Và đôi khi, chính cái phần mờ, phần thiếu, phần tự điền nốt ấy mới là nơi để cảm xúc bắt đầu.
Điện ảnh cũng vận hành bằng nguyên lý tương tự, tức là nghệ thuật để bộ não hoàn tất phần còn thiếu. Nó không thật sự trao cho ta chuyển động liên tục, mà chỉ đưa ra khoảng hai mươi bốn khung hình trong một giây, còn chính tâm trí ta mới dệt chúng thành một cú ngoái đầu, một cuộc rượt đuổi, một lời từ biệt ... Chế độ chuẩn hóa 24 fps từ thập niên 1920 là tốc độ tối thiểu để hình ảnh đồng bộ với âm thanh. Khi công nghệ phát triển, phim có thể đạt chế độ 48 fps hay cao hơn nữa. Thế nhưng, độ liên tục của hình ảnh không phải bao giờ cũng tỷ lệ thuận với độ sâu của cảm nhận. Thậm chí nếu số khung hình được đẩy lên quá cao, trải nghiệm hình ảnh đôi khi lại gây cảm giác "giả" vì nó quá trơn, quá mượt, quá rõ, không còn chỗ cho hiệu ứng "nhòe chuyển động" trong truyền thống. Một gương mặt nhìn rõ đến từng lỗ chân lông chưa chắc đã ám ảnh bằng một chân dung thấp thoáng qua làn mưa mỏng.
Tranh Cơn mưa bất chợt trên cầu Shin-Ōhashi và Atake, trong bộ 100 danh thắng Edo của Utagawa Hiroshige.
Đọc một cuốn tiểu thuyết cũng thế. Kim Dung chỉ cần mô tả Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành Sơn, xuất hiện như một ông lão gầy gò như hạc, áo giặt nhiều lần màu xanh đã bạc phếch, tay ôm cây hồ cầm chơi bản "Tiêu Tương dạ vũ" u uất thê lương, với một lưỡi kiếm mỏng như lá lúa giấu dưới đáy cây đàn, thì độc giả có thể hình dung ngay một cao thủ ẩn dật có kiếm pháp thượng thừa. Còn thực sự nhân vật này mặt mũi ra sao, võ công chiêu thức trông như thế nào, thì không ai biết chắc, mà tác giả cũng cố tình không tả kỹ. Tiên sinh chỉ hiện diện trong vài khoảnh khắc ngắn ngủi, thoắt ẩn thoắt hiện như thần long thấy đầu không thấy đuôi, nhưng chỉ cần tám chữ "cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm âm" là đủ để mỗi độc giả có thể tưởng tượng ra một vị trích tiên Mạc Đại của riêng mình, sống động hơn bất kỳ diễn viên nào có thể nhập vai.
Khi cuốn tiểu thuyết được dựng thành phim, vị cao nhân ấy bỗng có một gương mặt cụ thể, dáng đi cụ thể, kiếm pháp cụ thể. Có khi vai diễn rất đạt khiến ta thích thú, nhưng thường là chúng ta thất vọng, không phải vì phim làm kém, mà vì phim đã đóng lại cái khoảng không mà sách từng để ngỏ. Khung hình mịn đến đâu cũng không đủ để diễn tả cái cảnh giới vô ảnh trong tuyệt kỹ "một chiêu kiếm tiện bảy chung trà", âm thanh tinh tế tới đâu cũng không truyền tải được thứ khí lực vừa cô tịch vừa thanh cao trong tiếng đàn Tiêu Tương dạ vũ. Độ phân giải cao của công nghệ nhiều khi đã tước mất độ phân giải tinh của tưởng tượng.
Nếu như một nhà văn giỏi vừa biết viết cái gì, vừa biết không viết cái gì, thì một nhạc sĩ giỏi không chỉ biết lúc nào nên chơi, mà còn biết lúc nào nên dừng. Như người ta thường nói, âm nhạc không chỉ nằm ở các nốt nhạc, mà còn ở khoảng lặng giữa chúng. Khoảng lặng, chính vì vô nốt vô thanh, nên mới là nơi để nhịp điệu vận hành. Thậm chí khi đặt khúc "Tiếu Ngạo giang hồ" vào giữa một cao thủ chính phái và một trưởng lão Ma giáo, Kim Dung đã không trao cho nó một giai điệu cụ thể nào, để rồi trong chỗ vô định ấy, những ranh giới giữa chính và tà, giữa cô độc và tri âm, giữa ràng buộc và tự do ... tự hòa vào nhau ở tầng tưởng tượng sâu nhất trong mỗi người đọc.
Khi còn nhỏ, tôi ở gần nhà bác trưởng đoàn ca nhạc Sao Biển của Phú Yên. Có lần, nhà bác được giữ một bộ đàn đá, vậy là mấy đứa nhỏ trong xóm có dịp chơi thử. Đá vốn là thứ đặc quánh, tưởng như chỉ là yếu tố lạnh lùng cấu thành của địa chất. Vậy mà khi bên trong bị rỗng, gõ vào nó lại có thể ngân lên thành nhạc. Đá muốn thành nhạc phải có chỗ để rung.
Cũng lúc nhỏ, trong những lần theo ba mẹ đi ăn sáng, tôi cứ thắc mắc tại sao người lớn lại thích gọi cà phê phin. Phải ngồi chờ từng giọt, lâu ơi là lâu, mà đến lúc xong rồi thì cũng chỉ nhấp mấy ngụm là hết. Sau này ngẫm ra, cái đáng đợi đâu chỉ là giọt cà phê, mà là một khoảng thời gian chậm rãi để câu chuyện thành hình. Có khi cái ngon của cà phê phin nằm ở sự kết tủa của thời gian. Có người thích đắng, có người thích đường, nhưng ai cũng thích có người ngồi đợi chung với mình.
Lớn lên đi học, thỉnh thoảng cuối tuần tôi gọi điện về nhà. Phải ra ngoài cổng ký túc xá, xếp hàng chờ tới lượt trước một cái cabin chật hẹp. Cước phí thì đắt nên mỗi cuộc gọi chỉ kéo dài vài phút. Mà cách bưu điện tính cước rất thú vị: một phút một giây được tính tròn thành hai phút. Thành ra, khi nghe giọng mẹ, tôi phải cố chọn những điều cần nói nhất trước khi kim phút nhích sang ngưỡng mới. Sau này tôi mới hiểu, cách tính đó tuy có vẻ sai về toán, nhưng lại đúng về kinh tế. Đó chính là một cách lượng tử hóa cước phí, trong đó thời gian liên tục bị đóng gói thành các đơn vị rời rạc, và mỗi đơn vị phút có giá riêng, không thể chia nhỏ. Nó ép người gọi phải đếm ngược từ mỗi phút tròn, và chính cái đếm ngược ấy, cái khan hiếm ấy, làm cho mỗi giây trở nên có giá.
Tranh Cánh đồng lúa Asakusa trong lễ hội Torinomachi, trong bộ 100 danh thắng Edo của Utagawa Hiroshige.
Xa hơn nữa về trước, khi người ta gửi thư, thì một lá thư có khi viết mất một buổi chiều, gửi đi mất một tuần, chờ thư về thêm một tuần nữa. Nếu là trong chiến tranh, có những lá thư mà hành trình đi và về còn dài hơn cả một đời người. Nhưng có lẽ nội dung sâu nhất của một mối quan hệ nhiều khi không nằm ở những dòng chữ, mà nằm trong khoảng trống thời gian giữa hai lá thư, ở chỗ người ta giữ một ai đó trong lòng mà chưa thể gặp lại.
Ngày nay, mọi tin nhắn đến ngay lập tức. "Sent" và "Seen". Mọi khoảng trống thời gian đều bị lấp. Nhưng quan hệ không vì thế mà sâu hơn. Có khi còn nông hơn, vì sự vắng mặt không còn đủ dài để làm giàu cho sự hiện diện.
Đây có lẽ là nghịch lý kín đáo của thời đại chúng ta, như một dạng nguyên lý bất định giữa mật độ thông tin và hàm lượng cảm nhận, giữa "bận rộn" và "được sống". Đôi khi ta có cả kho dữ liệu trong điện thoại hay laptop, nhưng không có nổi một khoảng lặng đủ sâu để một điều gì đó thật sự có ý nghĩa được từ từ đọng xuống.
Những ngày sâu đậm không hẳn là ngày có quá nhiều sự kiện, mà đôi khi là ngày có những khoảnh khắc ngắn nhưng ý nghĩa, với thật nhiều khoảng trống. Một buổi sáng dạo công viên với con, đi qua những cụm lá bắt đầu vàng, nằm dưới tán cây gió thổi vi vu mà nghe từng hạt cỏ bật mầm trong đất. Một buổi trưa ngồi ăn cơm với mẹ, ngửi thấy vị thơm của mấy lát bông giờ trong chén canh chua mà tưởng nỗi nhớ đôi khi cũng như một loài hoa lẩn khuất trong vườn, ngày thường tìm không thấy nhưng hễ mưa về là sẽ mọc lên. Một buổi chiều ngồi nói chuyện với ba, từ quan tái Nguyễn Bính tới lãng đãng Đường thi, thấy cái "tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu" của một thuở xa xăm dường như cũng về chìm nổi trong chén rượu quê nhà. Hay một đêm ngồi với người thương, ngắm ánh trăng chìm vào từng hạt cát, cạnh biển động mà tưởng như không còn tiếng sóng. Có những khoảnh khắc ngắn nhưng đọng lại trong ta vì quanh chúng còn đủ khoảng không để biến thành ký ức.
Ảnh: Phan Thành Nam
Vô hạn quãng nhỏ trên đường thời gian
Tới đây, bệnh nghề nghiệp khiến tôi bị dẫn về một câu hỏi cũ của toán học: liệu thời gian có liên tục không? Trong toán học, ta quen biểu diễn thời gian như một đường thẳng thực, có thể chia nhỏ vô hạn. Giữa hai thời điểm bất kỳ luôn có một thời điểm thứ ba. Nghịch lý Zeno từ hơn 2500 năm trước đã tấn công vào đúng chỗ đó: giả sử Achilles chạy nhanh gấp mười lần con rùa, nhưng con rùa đã đi trước một trăm mét, và khi Achilles chạy được một trăm mét thì rùa đã đi được thêm mười mét, khi Achilles chạy thêm mười mét thì rùa lại đi thêm một mét. Cứ thế mãi mãi, con đường thời gian bị chia thành vô hạn quãng nhỏ, thì dường như Achilles không bao giờ đuổi kịp rùa.
Toán học hiện đại giải nghịch lý này bằng nhận xét rằng có những quá trình gồm vô hạn bước nhưng tổng thời gian lại hữu hạn, tức là Achilles vẫn đuổi kịp con rùa ở mét thứ 100 + 10 + 1 + 0.1 + 0.01 + ... = 1000/9. Toán học, theo nghĩa ấy, chấp nhận vô hạn. Thậm chí, giải tích còn được gọi là nghệ thuật của lấy giới hạn: không những có cái lớn, có cái nhỏ, mà còn có cái vô cùng lớn, có cái vô cùng nhỏ, và giữa chúng là thế giới của chúng ta.
Nhưng vật lý không chấp nhận vô hạn dễ dàng như thế. Cơ học lượng tử dựa trên sự tồn tại những gián đoạn, mà ở đó rời rạc dường như trở thành bản chất của mô tả thực tại. Tương tự cách Max Planck phát hiện ra sự tồn tại của những "gói" lượng tử năng lượng không còn có thể chia nhỏ, thì ở chiều thời gian, vật lý hiện đại cũng có một ngưỡng cực hạn gọi là thời gian Planck, cỡ 5.4 x 10^{-44} giây, viết tường minh là 0,000000000000000000000000000000000000000000054 giây (có 43 số 0 sau dấu phẩy trước khi tới số 54). Dưới ngưỡng ấy, những khái niệm quen thuộc về trước-sau, nhân-quả không còn đứng vững. Một cách hình tượng, có thể gọi thời gian Planck là "giây không thể tách", vì ý niệm phân chia thời gian nhỏ hơn mức ấy đã trở nên vô nghĩa trong các lý thuyết hiện có.
Về mặt kỹ thuật, thời gian Planck là nơi mà ba hằng số lớn của vật lý, gồm hằng số hấp dẫn Newton, hằng số Planck, và vận tốc ánh sáng, cùng bước vào một công thức: (Ghbar/c^5)^{1/2}. Dưới thang Planck, do nguyên lý bất định giữa thời gian và năng lượng, hễ ta cố quan sát một sự kiện trong thời gian quá ngắn, thì độ bất định năng lượng sẽ lớn đến mức hiệu ứng lượng tử của hấp dẫn không còn có thể bỏ qua, và làm xoắn cả không-thời gian tại đó. Khi ấy, không-thời gian không còn là sân khấu ngoan ngoãn để vật chất biểu diễn, mà đột nhiên cuộn mình để đòi trở thành một phần của vở kịch. Muốn đi sâu hơn, nhân loại cần tìm ra một cách kết hợp nhất quán giữa thuyết tương đối rộng và cơ học lượng tử. Nhưng hai trụ cột của vật lý hiện đại chưa bao giờ chịu ăn khớp hoàn toàn với nhau. Trong bài toán hấp dẫn lượng tử, lý thuyết dây cùng nhiều hướng tiếp cận khác vẫn là những nỗ lực còn dang dở.
Tranh Tám lần, của Wassily Kandinsky.
Một mặt, "thang Planck" có thể xem là đường chân trời sự kiện của lỗ đen nhận thức trong vật lý đương đại. Mặt khác, chúng ta vẫn có thể bình thản thỏa hiệp với ngưỡng cực hạn này nếu hiểu thang Planck như một cơ chế tự vệ của tự nhiên, một "độ phân giải tối thiểu" mà tạo hóa đã thiết lập để ngăn những điểm kỳ dị vô nghĩa. Giống như việc điện ảnh không nên chia nhỏ hơn một khung hình, tự nhiên có quyền từ chối một thứ liên tục tuyệt đối theo nghĩa toán học để giữ lại một "pixel" cuối cùng của thời gian.
Tôi nghĩ nhiều khi đó chính là sự cảm thông tinh tế của tạo hóa. Nếu thời gian chia được mãi, thì sẽ không có khoảnh khắc nào là khoảnh khắc thật. Mọi khoảnh khắc đều có thể bị tách làm hai, rồi bốn, rồi tám, rồi vô hạn, đến mức chính nó tan biến vào quá trình vi phân không dứt. Trong một vũ trụ như vậy, sẽ chỉ còn dòng chảy vô cùng, chứ không còn điểm dừng để một điều gì đó có thể thực sự xảy ra. Sự tồn tại một ngưỡng chặn dưới của phép chia thời gian vừa gợi mở cho sự ẩn giấu một cấu trúc sâu thẳm mà ta chưa hiểu, lại vừa là chỗ đảm bảo cho những khoảnh khắc có đặc quyền tồn tại như chúng vốn là.
"Trong một niệm thấy ba ngàn thế giới"
Nguyên lý bổ sung của Bohr gợi ý rằng ở mức độ sâu nhất, thực tại thường hiện ra qua những cặp đối ngẫu, như vị trí và động lượng, như sóng và hạt, như liên tục và rời rạc ... Thậm chí, ta có thể thấy cùng một cặp đối ngẫu ấy ở nhiều hoàn cảnh khác nhau, quy mô khác nhau, hình dáng khác nhau, tùy cách ta hỏi mà cái này lộ ra hay cái kia hiển hiện. Trong đời người cũng vậy, cuộc sống vừa là dòng chảy liên tục của thời gian, vừa là tập hợp rời rạc của những khoảnh khắc. Cả hai đều thật, ta không thể ôm hết cả hai cùng một lúc, nhưng ta cần cả hai để biết mình đang sống.
Phật giáo có một câu tinh diệu: "nhất niệm tam thiên", tức là trong một niệm có thể thấy ba ngàn thế giới. Đây vừa là ẩn dụ, vừa là trực giác: ta không chỉ sống bằng một dòng thời gian liên tục, mà còn bằng những điểm gián đoạn, để một khoảnh khắc cô đọng của tâm cũng đủ chỗ cho một đời hiện lên nguyên vẹn.
Tô Thùy Yên trong bài "Thắp tạ" có một khổ thơ rất gần với trực giác ấy:
Cửa đẩy lầm, vô lường cuộc diện
Ba ngàn thế giới đã nhà chưa?
Lâu ngày, thân thế rách như gió
Thấy lại mình như kẻ đáng ngờ
Mỗi khoảnh khắc ta mở lòng ra với đời giống như một quan sát lượng tử làm cho hàm sóng nhân gian sụp vào tâm thức. Trong chỗ ngẫu nhiên của cuộc "vô lường", ta không biết trước đâu là cánh cửa đúng, đâu là cánh cửa sai, nên cứ đi miên mãi giữa muôn ngàn khả thể. Cứ mỗi lần rẽ một hướng, ta dường như lại để rớt một phần bản thể của mình, mặc chúng lầm lũi trôi dạt theo những nhánh mà cuộc đời không chọn. Và khi đi qua quá nhiều ngả rẽ, liên tục phân thân theo vô vàn chữ "nếu", con người bị xé mỏng dần dần đến mức khi ngoảnh lại nhìn chính mình cũng thấy xa lạ.
Tranh Đồi Cung Điện ở Shinagawa Hiroshige, trong bộ 100 danh thắng Edo của Utagawa Hiroshige.
"Rách như gió" là một cách nói của "vô chi dĩ vi dụng": rách thường gợi mất mát, hư hao, nhưng cũng nhờ đó mà có chỗ để gió chạy qua, và gió chạy qua được vì chính nó cũng rách. Thân thế mà kín mít, không còn vết nứt nào, thì có lẽ cũng không còn là thân thế đang sống nữa. Cũng như một trí tuệ toàn tri, khi biết hết thảy và không còn khoảng trống nào cho hồ nghi, thì cũng sẽ triệt tiêu luôn nhân tính. Nếu như thời gian cần một đáy chặn dưới để mỗi khoảnh khắc không tan vào phép chia vô hạn, thì đời người cũng cần những vết rách cho gió vô thường lùa qua, để ký ức, trăn trở, tình thương, và cả nỗi đau có chỗ đọng vào.
Khi thế giới hiện đại đang nâng mọi thứ lên độ phân giải cao, nhiều chiều kích của ta lại âm thầm biến mất. Nói chính xác hơn, nhiều thứ vẫn hiện diện theo nghĩa lý thuyết, nhưng tàng hình theo nghĩa cảm nhận, vì không còn khoảng trống để neo lại như một phần của đời người. Một chiếc tivi đen trắng 14 inch cho cả xóm cùng xem, một cuộc gọi hai phút về nhà với mẹ, một lá thư viết tay gửi người yêu ... Liệu đó là những thứ kém chất lượng cần được nâng cấp, hay chính là những khoảnh khắc từng đủ sức định nghĩa trọn vẹn chúng ta?
Vật lý hiện tại, bằng một phép thỏa thuận nào đó với vũ trụ, đang chấp nhận một giây-không-thể-tách của riêng nó. Có lẽ mỗi đời người cũng cần một giới hạn như thế, một ranh giới không cho phép mọi khoảnh khắc bị nuốt chửng bởi deadline, hay mọi tương tác bị nghiền thành dữ liệu. Để giữa các nốt nhạc vẫn còn khoảng lặng, giữa các khung hình vẫn có khoảng đen, giữa những lần gặp vẫn có quãng chờ. Như giọt cà phê cuối cùng đọng nơi đáy phin vẫn được phép dùng dằng chống cự lại trọng lực trước khi buông mình rơi xuống.
Lớp học vi phân muôn cá tính
Mỗi hạt thời gian một góc ngồi
Chạm được vào giây-không-thể-tách
Mới hay vô hạn cũng ngừng trôi