Khi chưa có kinh nghiệm đào tạo, các quốc gia mới phát triển điện hạt nhân phải làm thế nào? Trước hết, hãy cử người đi học ở các cường quốc điện hạt nhân. Vì thế, dù mới chỉ ở bước đầu tiên là quyết định làm điện hạt nhân, Uzbekistan đã liên hệ với trường ĐH Năng lượng Moscow (MPEI) về kế hoạch đào tạo nhân lực cho nhà máy tương lai, giáo sư Nikolai Rogalev, hiệu trưởng trường MPEI cho Tia Sáng biết trong cuộc trao đổi bên lề phiên thảo luận giữa trường MPEI và Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam ngày 29/5. Quan tâm sớm đến đào tạo sẽ đem lại thế chủ động, nhất là khi không phải dễ có được nguồn nhân lực tốt.
Không có ngoại lệ nào đối với điện hạt nhân, bài toán nhân lực cần được xét thấu đáo, dài hạn. Trước mắt có thể cử người đi học ở nước ngoài nhưng "Nhà máy điện hạt nhân tồn tại cả trăm năm thì phải tự đào tạo, chẳng lẽ cả trăm năm chúng ta chỉ cử người đi học nước ngoài". TS. Trần Chí Thành, viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, nêu vấn đề tự chủ về đào tạo.
Thiết kế minh họa: Ngô Hà
Tận dụng được gì từ nền tảng trước năm 2016?
Trước khi dừng điện hạt nhân vào tháng 11/2016, Việt Nam đã lên kế hoạch nhân lực cho hai nhà máy Ninh Thuận 1 và 2: kết hợp với năm trường đại học trong nước mở các khóa đào tạo về vật lý hạt nhân, công nghệ hạt nhân, đồng thời gửi đi đào tạo ở Nga và Nhật Bản khoảng gần 450 người, trong đó có hơn 400 sinh viên đào tạo ở Nga, 32 sinh viên ở Nhật Bản.
Vào thời điểm lứa đầu tiên gồm 28 sinh viên theo học tại Đại học Nghiên cứu Hạt nhân Quốc gia Nga (MEPhI) chỉ còn một năm nữa là tốt nghiệp, tuyên bố dừng của Việt Nam đã đặt cả họ lẫn trường MEPhI vào thế phải lựa chọn: hoặc là học tiếp một năm nữa để lấy bằng kỹ sư công nghệ hạt nhân, hoặc chuyển sang ngành khác.
Khi hoàn tất quá trình đào tạo, một số đã tham gia các dự án điện hạt nhân của Nga, còn lại đa số đều về nước. Trong số này, chưa tới 20 người quyết định làm việc tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam để theo đuổi đúng nghề, còn lại hầu hết tới EVN và các công ty điện lực khác. Nhận xét về khả năng đưa những cựu sinh viên này trở lại với điện hạt nhân, TS. Trần Chí Thành tiếc nuối "Kiến thức của họ chắc cũng đã rơi rụng, bây giờ muốn dùng họ thì phải đào tạo lại. Vì hơn một chục năm họ không làm việc liên quan đến điện hạt nhân, có khi tiếng Nga cũng quên".
Nếu không thể dựa vào nhân lực đã trải qua đào tạo quốc tế, Việt Nam có thể kế thừa nền tảng sẵn có để xây dựng một chương trình đào tạo điện hạt nhân đúng nghĩa không? Thực tế cho câu trả lời không như mong đợi: Việt Nam chưa đào tạo được kỹ sư công nghệ hạt nhân, chỉ mới đào tạo được nhân lực ở lĩnh vực năng lượng nguyên tử nói chung, phần nhiều là kỹ thuật hạt nhân và ứng dụng năng lượng nguyên tử, như kỹ thuật ghi đo bức xạ, vật lý y sinh...
Bốn văn bản chính sách về nhân lực
Không kế thừa được gì từ giai đoạn trước nhưng không thể nói Việt Nam chuẩn bị cho nhà máy Ninh Thuận 1 từ con số không. Ngược lại, kế hoạch này đã nhận được hú hích chính sách rất quan trọng.
Kể từ năm 2025 đến nay, Việt Nam lần lượt ban hành bốn văn bản quan trọng về nguồn nhân lực điện hạt nhân: Quyết định 1012/QĐ-TTg phê duyệt đề án "Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phát triển điện hạt nhân đến năm 2035"; Quyết định 893/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu - phát triển, ứng dụng và hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử"; Quyết định 1050/QĐ-BGDĐT ban hành chuẩn Chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành về điện hạt nhân; và Nghị định 176/2026/NĐ-CP quy định chính sách ưu đãi đối với giảng viên, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, cán bộ quản lý trong lĩnh vực điện hạt nhân.
Cả bốn văn bản này bao quát cả chương trình đào tạo, địa điểm đào tạo, chính sách ưu đãi người dạy, người học và cả nhu cầu sử dụng nhân lực.
Theo nhận xét của TS. Đặng Thanh Lương, nguyên Cục phó Cục An toàn và bức xạ hạt nhân, điểm tích cực lớn nhất của bốn văn bản này là ở chỗ "đều có đầy đủ cả nhân lực lẫn chế độ chính sách cho những nhân lực ấy".
Dẫu vậy, cách chuẩn bị nhân lực của Việt Nam vẫn còn điểm khác biệt so với thông lệ quốc tế, đặc biệt là các quốc gia có nền công nghiệp hạt nhân hùng mạnh như Nga và Mỹ. Thông thường, cách chuẩn bị nhân lực cho điện hạt nhân đều xuất phát từ bản chất công nghệ, các vị trí việc làm, số lượng và năng lực ở từng vị trí rồi mới thiết kế chương trình đào tạo. Đó là có "cách làm xuôi" ở các quốc gia tiên tiến nhưng dựa theo bốn văn bản này, TS. Đặng Thanh Lương, một chuyên gia mà cả sự nghiệp gắn bó với an toàn bức xạ và cấp phép trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, nhận xét "chúng ta đang làm ngược", bởi chưa nắm rõ tất cả những thông số trọng yếu này.
Để dự trù nhân lực tốt, TS. Đặng Thanh Lương cho rằng cần "đánh giá năng lực của chúng ta là gì? cần cái gì?". Theo Quyết định 1012, Việt Nam cần 4000 cán bộ cho nhà máy điện hạt nhân nhưng trên thực tế "chúng ta đều chưa làm rõ 4000 cán bộ đó giữ vị trí gì trong nhà máy điện hạt nhân? thời điểm nào cần họ?".
Thiết kế minh họa: Ngô Hà
Nếu dựa trên tính chất công nghệ mà Nga cung cấp cho Ninh Thuận 1 thì các chuyên gia lưu ý, hai lò phản ứng cần khoảng 2000 người, song vẫn còn ước tính được nhân lực cần thiết cho Ninh Thuận 2 bởi cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa lựa chọn được công nghệ.
Cách làm ngược của Việt Nam còn nằm ở chỗ ấn định ngay danh sách 11 trường đại học được phép đào tạo nhân lực cho điện hạt nhân. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, việc đào tạo phân tán ở nhiều trường này là cách làm khác với thông lệ của các nền công nghiệp điện hạt nhân hàng đầu thế giới bởi họ chỉ tập trung ở một vài trường kỹ thuật trọng điểm.
Tại sao việc đào tạo nhân lực hạt nhân chỉ tập trung vào một số trường? Để đạt được một trong những yêu cầu đầu ra là phải thiết kế được một lò phản ứng hạt nhân và tính đến giá thành điện, một kỹ sư điện hạt nhân phải được cung cấp nền tảng kiến thức kỹ thuật đa dạng. Vì vậy, khoa công nghệ hạt nhân (Nuclear Engineering) "cần được đặt ở một trường đại học có nền tảng tốt nhất về kỹ thuật, nghĩa là có thể mời được giảng viên giỏi ở nhiều môn kỹ thuật khác sang giảng dạy. Nhờ vậy, có thể tổ chức đào tạo được cho một lĩnh vực đa ngành, liên ngành như điện hạt nhân một cách thuận lợi và tối ưu", TS. Trần Chí Thành chia sẻ những kinh nghiệm mà ông rút ra trong quá trình học tập, làm việc và trao đổi ở Nga, Thụy Điển, Mỹ...
Hệ quả của việc chọn sai địa điểm đào tạo có thể dẫn đến chất lượng đào tạo không hiệu quả như mong đợi. "Tôi xin lấy ví dụ ở Nga vốn đã có nhiều nhà máy rồi nhưng việc đào tạo nhân lực cho các nhà máy ấy cũng chỉ tập trung vào một số trường như MPEI, MEPhI, và một vài trường có nền tảng kỹ thuật khác", TS. Lê Văn Hồng, nguyên viện phó Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam nhận xét. "Nếu chúng ta đào tạo theo kiểu ‘trăm hoa đua nở’, nhà nhà ai cũng làm thì chất lượng đào tạo nó sẽ bị loãng ra".
Chuẩn chương trình đào tạo hiện nay gồm danh mục 50 ngành, trong đó có 19 ngành cốt lõi và 31 ngành phụ trợ - liên ngành, căn cứ để tới đây, các cơ sở đào tạo trình độ đại học sẽ xây dựng chương trình chi tiết. Để đảm bảo chất lượng đầu ra, theo TS Trần Chí Thành, chương trình đào tạo chuẩn "không thể thiếu nền tảng về điện hạt nhân", đặc biệt phải có đầy đủ các môn học cốt lõi như vật lý hạt nhân nguyên tử, vật lý neutron, các môn về lò phản ứng hạt nhân, lý thuyết lò phản ứng, động học lò phản ứng, điều khiển lò phản ứng, cơ học dòng chảy, truyền nhiệt (đầy đủ), an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân.
Trên thực tế, chương trình đào tạo nhân lực cho các nhà máy điện hạt nhân của Nga như trường MPEI, MEPhI đều tập trung dành nhiều thời gian đào tạo ở những môn học cốt lõi. Kỹ sư công nghệ hạt nhân Vũ Hoàng Hải, cựu sinh viên MEPhI, cho biết các môn quan trọng ở trường MEPhI là vật lý hạt nhân, Lý thuyết dịch chuyển neutron, Vật lý lò phản ứng hạt nhân, Động học lò phản ứng hạt nhân, Tính toán thủy nhiệt lò phản ứng hạt nhân, Vận hành nhà máy điện hạt nhân.
Những môn học cơ bản và quan trọng của công nghệ hạt nhân này, không chỉ có trong chương trình học của Nga mà còn có ở chương trình bậc đại học của các trường đào tạo điện hạt nhân của Mỹ, nơi dẫn đầu thế giới về sản lượng điện hạt nhân và số lò phản ứng đang vận hành, ví dụ trường đại học Purdue [1], đại học Bắc Carolina [2], Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) [3].
Giá trị của những môn học cốt lõi này nằm ở chỗ, nó giúp người kỹ sư hiểu được quá trình diễn ra trong lò phản ứng và các hệ thống liên quan. Dù chỉ chiếm vài chục phần trăm trong tổng số nhân lực nhà máy nhưng họ lại ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn hạt nhân. "Khi anh hiểu được vật lý lò thì anh mới học đến điều khiển lò. Từng bước từng bước một, người ta yêu cầu người kỹ sư điện hạt nhân hiểu hoạt động về mặt vật lý". TS. Lê Văn Hồng phân tích. Một lò phản ứng năng lượng vận hành còn liên quan đến các quá trình thủy nhiệt (Thermal Hydraulics), tức là cần môn cơ sở như môn vật lý neutron, thủy nhiệt, truyền nhiệt, cơ học chất lỏng hay cơ học trong môi trường liên tục...
Tuy nhiên, khi đặt danh mục 19 ngành cốt lõi vào 11 trường đại học được lựa chọn thì có thể thấy, gần như không trường đại học nào trong đó có đủ đội ngũ giảng viên, hệ thống cơ sở vật chất để giảng dạy ở các ngành này, càng không có các môn lý thuyết - điều khiển lò phản ứng, dịch chuyển neutron, tính toán thủy nhiệt lò phản ứng... Trước năm 2016, các trường được lựa chọn cũng chỉ có các ngành ở dạng nhập môn cơ bản và chưa trường nào hội tụ được đầy đủ điều kiện giảng dạy các môn nền tảng điện hạt nhân theo tiêu chuẩn quốc tế.
Sinh viên thăm nhà máy điện hạt nhân Novovoronezh. Ảnh: Nguyenvanlinh.epu/CC BY-SA 4.0
Điều gì sẽ xảy ra nếu những nhân lực được đào tạo trong điều kiện không đầy đủ về nền tảng kiến thức, dẫn đến không có đủ năng lực như yêu cầu? Theo TS. Lê Văn Hồng "Nếu mình đào tạo nhân lực không đạt được yêu cầu của chủ nhà máy thì chủ nhà máy có thể sẽ không tiếp nhận hoặc trong trường hợp được nhận vào mà làm không được thì sẽ bị loại thải".
Theo phân tích của TS. Trần Chí Thành, ROSATOM, nhà thầu cung cấp công nghệ VVER-1200 cho nhà máy Ninh Thuận 1, cũng có trách nhiệm đào tạo đội ngũ cán bộ cho nhà máy để đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn riêng liên quan đến công nghệ. Đây là lý do mà "nếu mình xây dựng một cơ sở đào tạo về điện hạt nhân tại Việt Nam mà không đảm bảo chất lượng đào tạo thì có thể khi sinh viên ra trường, người ta sẽ không dùng. Chắc chắn như thế, vì đối tác ROSATOM phải có trách nhiệm của mình đối với những gì có thể xảy ra đối với nhà máy chứ. Nếu một đội ngũ không đảm bảo chất lượng thì làm sao họ sử dụng được?".
Hệ quả của việc này là "rất có thể họ có phương án tốt hơn là tự tuyển chọn rồi đưa sang Nga đào tạo". Vì vậy, nếu chúng ta không xây dựng được chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế thì sẽ dẫn đến một lãng phí nguồn lực lớn.
Làm gì để có nguồn nhân lực đúng yêu cầu?
Việc thiết kế một chương trình đào tạo công nghệ hạt nhân ở Việt Nam được đánh giá là vừa dễ lại vừa khó. Dễ là bởi có thể học hỏi, áp dụng phương thức đào tạo đã được đúc rút trong mấy chục năm phát triển điện hạt nhân ở nhiều cường quốc; khó là triển khai như thế nào cho tối ưu để không lãng phí nguồn lực, thời gian nhưng vẫn có được nhân lực đầu ra thực sự tốt.
Cũng giống như việc lựa chọn công nghệ và đối tác cho nhà máy Ninh Thuận 1, chương trình đào tạo nhân lực cũng phải ở mức tiêu chuẩn tốt nhất và gắn liền với an toàn. "Đào tạo nhân lực cho điện hạt nhân phải đạt tiêu chuẩn quốc tế. Nếu xét đến trách nhiệm với vấn đề an toàn của đất nước thì rõ ràng chúng ta phải có một chương trình đào tạo tốt. Chúng ta có thể học hỏi nước ngoài, cùng với nước ngoài xây dựng đội ngũ và xây dựng chương trình chuẩn", TS. Trần Chí Thành nói.
Do đó, một chương trình đào tạo công nghệ hạt nhân của Việt Nam cần được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế và được nhiều quốc gia công nhận. Là quốc gia đi sau, Việt Nam có lợi thế học hỏi, tiếp nhận khuôn mẫu đã tối ưu theo thời gian. "Một chương trình đào tạo như vậy thì nhiều trường đào tạo nổi tiếng trên thế giới đã có rồi, mình cứ lấy chương trình của họ, mình nghiên cứu kỹ và Việt hóa (tính đến các đặc thù và điều kiện Việt Nam), mình xây dựng một chương trình đào tạo ở những trường kỹ thuật lớn của đất nước. Tôi nghĩ cũng chỉ cần hai đến ba trường, không cần nhiều, ví dụ như trường đại học Bách khoa Hà Nội chẳng hạn", TS. Lê Văn Hồng đóng góp ý kiến. Lý do là nhiều trường ở Việt Nam không hội tụ đủ các ngành học liên quan, không đủ đội ngũ giảng viên nên không thể triển khai chương trình này một cách đại trà.
Các nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt trao đổi với các nhà nghiên cứu quốc tế tại phòng điều khiển lò phản ứng Đà Lạt.
Các chuyên gia cũng lưu ý là Việt Nam chưa có nhà máy điện hạt nhân nên không phải môn học nào Việt Nam cũng có thể tự đào tạo được. "Có những vấn đề khó thì mời chuyên gia bởi an toàn trong toàn bộ vòng đời nhà máy điện hạt nhân trước hết phụ thuộc vào những kiến thức này", TS. Đặng Thanh Lương chỉ ra.
Quốc tế hóa chương trình đào tạo là cách tốt để nhân lực điện hạt nhân Việt Nam có chuẩn đầu ra tốt. "Mình có thể hợp tác với Nga và một quốc gia phương Tây nào đó vì nhờ vậy mình có thể học kinh nghiệm của cả hai hệ thống để chọn được cái tốt nhất". TS. Trần Chí Thành lưu ý giá trị của việc hợp tác quốc tế trong xây dựng chương trình đào tạo nhân lực.
Việc xây dựng một chương trình đào tạo như vậy cần được tính đến với bốn điểm quan trọng:
Thứ nhất, xây dựng được một chương trình chuẩn quốc tế, theo kinh nghiệm quốc tế, bao gồm các môn học cốt lõi của công nghệ hạt nhân cùng các môn học kỹ thuật cơ bản liên quan.
Để việc đào tạo bài bản, chương trình cần kết hợp lý thuyết với thực hành. Do đó cần tận dụng các phòng thí nghiệm sẵn có kết hợp với đầu tư xây mới cơ sở thực nghiệm về truyền nhiệt, nhiệt động học, vật lý neutron...
Thứ hai, phải tập hợp và xây dựng một cách có hệ thống các giáo trình giảng dạy, trong đó những giáo trình cơ bản của các đại học uy tín của Nga, Mỹ cần được dịch ra tiếng Việt cho sinh viên năm đầu học. Rất nhiều giáo trình các môn căn bản của công nghệ hạt nhân đều chưa có bản tiếng Việt.
Thứ ba, phải quy tụ được đội ngũ giáo viên giỏi tham gia đào tạo. Để làm được việc này, có thể đào tạo thêm, bổ sung kiến thức cho các giảng viên trong nước, đồng thời mời các giáo sư nước ngoài cùng đào tạo ở những môn học quan trọng mà Việt Nam chưa có.
Thứ tư, hợp tác với các đối tác công nghiệp để thiết kế chương trình thực hành cho sinh viên ở các nhà máy nhiệt điện trong nước và nhà máy điện hạt nhân ở nước ngoài.
"Nếu có trách nhiệm với vấn đề an toàn của đất nước thì rõ ràng phải có một chương trình đào tạo tốt. Bởi trong điện hạt nhân, trách nhiệm an toàn là số một. Muốn kinh tế thì phải an toàn, an toàn ở nhiều cấp độ bởi khi một sự cố như Fukushima xảy ra thì nó sẽ ảnh hưởng đến cả dân tộc", TS. Trần Chí Thành nhận xét.
Tuy nhiên, đội ngũ vận hành nhà máy điện hạt nhân mới chỉ là một phần của nhân lực cho điện hạt nhân. Để giữ an toàn hạt nhân, sẽ cần đến các đội ngũ R&D hỗ trợ kỹ thuật, an toàn pháp quy hạt nhân nhưng việc đào tạo được những chuyên gia này còn phức tạp và khắc nghiệt hơn nhiều (chúng ta sẽ cùng bàn đến ở một dịp khác).
Trong ngành công nghệ hạt nhân, các kỹ sư hạt nhân và những người giữ an toàn được ví như "người vàng" và việc đào tạo được họ là một chỉ dấu của năng lực đất nước. "Về lâu dài chúng ta phải đào tạo, đó là năng lực riêng, trình độ riêng không phải quốc gia nào cũng có. Nhìn rộng ra, năng lực triển khai thành công một chương trình điện hạt nhân cũng là một năng lực đặc biệt của bất kỳ quốc gia nào có nó", TS. Trần Chí Thành nói.
Các chuyên gia cho rằng, chương trình đào tạo của Việt Nam cần có toán cao cấp bởi đây là môn học rất quan trọng với công nghệ hạt nhân. Không thể bỏ qua môn học này bởi "Mỗi kỹ sư làm việc tại nhà máy điện hạt nhân phải rất giỏi về toán, vật lý... không chỉ giỏi toán học ở mức cơ bản mà ở mức cao nhất, không chỉ giỏi vật lý cơ bản mà ở mức cao nhất", theo TS Anastasia M. Mashkova, Giám đốc phát triển chính sách hợp tác trường MPEI. Việc thiếu nền tảng Toán sẽ khiến cho các sinh viên, khi bước vào những năm cuối, mất khả năng tiếp thu và hiểu sâu sắc về vật lý hạt nhân và lò phản ứng. Đó là lý do mà chương trình đào tạo điện hạt nhân tại các nước tiên tiến trang bị nền tảng Toán cao cấp đầy đủ cho sinh viên.
---
Tài liệu tham khảo:
[1] 4+1 BSNE/MSNE Program, Purdue University, https://engineering.purdue.edu/NE/academics/undergraduate/4plus1degreeprogram
[2] Nuclear Engineering (BS), NC State University, https://catalog.ncsu.edu/undergraduate/engineering/nuclear/nuclear-engineering-bs/#planrequirementstext
[3] Nuclear Science and Engineering (Course 22), MIT, https://catalog.mit.edu/degree-charts/nuclear-science-engineering-course-22/