![]() |
Nhiều sinh viên Việt Nam đang được đào tạo tại trường đại học của Nga như ĐH Liên bang Viễn Đông, ĐH Điện lực Moskva, ĐH Nghiên cứu hạt nhân quốc gia... Nguồn: Sputnik |
Nghị quyết 70 về năng lượng của Bộ chính trị đang đặt ra cho chương trình điện hạt nhân rất nhiều cơ hội và thách thức. "Khẩn trương triển khai các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 với các đối tác phù hợp, bảo đảm lợi ích cao nhất của Việt Nam có tính đến thỏa thuận trước đây, đưa vào vận hành trong giai đoạn 2030 – 2035". Ở đây, cơ hội mà chương trình điện hạt nhân có được là quyết tâm chính trị của lãnh đạo quốc gia, một trong 19 yếu tố cơ sở hạ tầng quan trọng mà Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) khuyến cáo. Mặt khác, thách thức của chương trình chính là thời gian, khi nhà máy điện hạt nhân đầu tiên sẽ phải ‘vận hành trong giai đoạn 2030 – 2035’, nghĩa là trong vòng tối đa 10 năm tới.
Khi nắm bắt được tất cả các cơ hội và nhận diện được thách thức sẽ phải đối mặt, Việt Nam sẽ lựa chọn phương án cho nhà máy Ninh Thuận 1 như thế nào để có thể tối ưu được nguồn lực mình có?
Kinh nghiệm từ quốc tế
Một trong những điều trước tiên Việt Nam cần làm là rà soát lại kinh nghiệm từ các quốc gia đã xây dựng nhà máy điện hạt nhân, kể cả các quốc gia lần đầu có điện hạt nhân lẫn các quốc gia đã từng có các nhà máy trước đây. Đó là quan điểm của TS. Hoàng Sĩ Thân, trưởng Ban Kế hoạch và Quản lý khoa học (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) nêu tại Hội nghị KH&CN điện lực toàn quốc "Chuyển dịch năng lượng và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia", tổ chức tại TPHCM từ ngày 27 đến 28/11/2025. Ông và các chuyên gia khác của Viện đã chọn lọc ra những dự án điển hình trong lịch trình phát triển điện hạt nhân thế giới như nhà máy điện hạt nhân Barakah, UAE; nhà máy điện hạt nhân Paks II (Hungary); nhà máy điện hạt nhân Olkiluoto-3, Phần Lan; nhà máy điện hạt nhân Hinkley Point C, Anh; nhà máy điện hạt nhân Taishan, Trung Quốc... Việc nhìn sâu và phân tích các dự án điển hình này có thể đem lại nhiều gợi ý hữu ích cho Việt Nam, trên con đường đến với nhà máy Ninh Thuận 1 và 2.
Yếu tố cốt lõi trong thành công của các dự án điện hạt nhân là sự chuẩn bị kỹ lưỡng trên nhiều phương diện, trong đó quan trọng là tuân thủ rất chặt chẽ cách tiếp cận cột mốc thời gian mà Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA) khuyến cáo và bao hàm 19 yếu tố khung cơ sở hạ tầng. TS. Hoàng Sĩ Thân |
Điểm chung của tất cả các dự án này là đều đón nhận công nghệ mới từ quốc gia khác, dù là UAE, quốc gia đầu tiên có điện hạt nhân hay Hungary, Anh, Trung Quốc, Phần Lan, những quốc gia đã vận hành nhà máy điện hạt nhân. Với nhóm các quốc gia đứng sau, mặc dù đã làm chủ được một vài dạng công nghệ nhất định nhưng với những công nghệ mới, công nghệ tiên tiến thì họ cũng lựa chọn nhập khẩu công nghệ, ngay cả với trường hợp của Anh và Trung Quốc. Hiện tại, phần nhiều dự án đã hoàn thành và nhà máy đã nối lưới điện ở khắp các lò phản ứng nhưng cũng có nhà máy còn dở dang như Hinkley Point C, bất chấp nỗ lực hàng thập kỷ. Vì vậy, câu chuyện tiếp nhận công nghệ và triển khai dự án điện hạt nhân ở những quốc gia này cũng đủ sức gợi mở rất nhiều bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Điểm chung thứ hai của các dự án này là thời gian thực hiện đều ở mức xấp xỉ 10 năm, hoặc thậm chí kéo dài hơn. Những tưởng rằng những quốc gia từng có điện hạt nhân như Anh, Phần Lan hay Trung Quốc có thể cắt giảm được lộ trình chuẩn bị, tuy nhiên thực tế lại cho thấy, việc cắt giảm thời gian chuẩn bị không hề dễ dàng đối với những dự án phức tạp, yêu cầu các tiêu chuẩn ở mức gần như tuyệt đối và quy mô lớn như điện hạt nhân. Một trong những ví dụ điển hình là dự án Hinkley Point C của Anh, được bàn bạc từ những năm 1990 và được hy vọng sẽ đi vào vận hành vào những năm 2020 với hai lò phản ứng theo công nghệ nước áp lực thế hệ III+. Tuy nhiên, dự án đã liên tục bị trì hoãn bởi rất nhiều yếu tố ngoại cảnh mà Chính phủ Anh không thể tự giải quyết được, ví dụ như lạm phát, đối tác rút vốn, Brexit, COVID-19, sự phản đối thông qua Chiến dịch ngăn chặn mở rộng Hinkley (SHE) do của tổ chức Greenpeace hậu thuẫn với 50.000 bảng Anh... Dự kiến, lò phản ứng số một sẽ được vận hành vào quãng 2029 – 2031.
Trong khi đó, dự án được coi là thành công và trở thành kiểu mẫu đối với các quốc gia lần đầu có điện hạt nhân là Barakah của UAE, khi tiếp nhận công nghệ lò nước áp lực tiên tiến (APR-1200) từ Tổng Công ty Điện lực Hàn Quốc KEPCO. Hợp đồng giữa Tổng Công ty Điện lực UAE và KEPCO được ký kết vào năm 2009, lò phản ứng đầu tiên được khởi công vào năm 2012, thùng lò phản ứng số một được lắp đặt vào vị trí năm 2014, năm 2018 hoàn tất xây dựng, các bó nhiên liệu được nạp vào lò số một vào năm 2020, sau đó bắt đầu phát điện vào cuối năm đó và nối lưới điện vào năm 2021. Cho đến nay, cả bốn lò phản ứng của đều đã đi vào vận hành và cung cấp tới 25% tổng nhu cầu năng lượng của UAE và góp phần ngăn phát thải 22,4 triệu tấn carbon mỗi năm.
Cần lưu ý đến việc "mô hình quản trị và hợp đồng phải rõ ràng, gắn chặt với các điều kiện trong nước, các mô hình tài chính cần tuân theo theo điều kiện Việt Nam, tính đến lạm phát, rủi ro tỷ giá, và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước - nhà đầu tư - người dùng điện. TS. Hoàng Sĩ Thân |
TS. Hoàng Sĩ Thân cho rằng, thành công hay thất bại của các dự án điện hạt nhân đều cho chúng ta những bài học đắt giá. Nhìn từ thành công của Barakah, ông nhấn mạnh đến những yếu tố cốt lõi trong thành công của các dự án điện hạt nhân là sự chuẩn bị kỹ lưỡng trên nhiều phương diện, trong đó quan trọng là tuân thủ rất chặt chẽ cách tiếp cận cột mốc thời gian mà Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA) khuyến cáo và bao hàm 19 yếu tố khung cơ sở hạ tầng. Bên cạnh đó, UAE đã khôn ngoan và đúng đắn khi lựa chọn mô hình gắn kết quốc gia – nhà thầu – tư vấn quốc tế để giữ thế cân bằng, không bị phụ thuộc hoàn toàn vào nhà thầu bởi có bên thứ ba tư vấn, hỗ trợ; trước khi khởi công đã hoàn thiện khung pháp lý cho dự án tiến hành một cách thuận lợi, đồng thời cũng tạo điều kiện vận hành an toàn nhà máy sau này; đào tạo lực lượng vận hành nhà máy từ sớm.
Việt Nam học hỏi được gì?
Việc chuẩn bị cho dự án Ninh Thuận 1 đang bắt đầu vào guồng mà nổi bật nhất là việc phái đoàn Đánh giá tích hợp cơ sở hạ tầng hạt nhân (INIG) của IAEA tới Việt Nam vào đầu tháng 12/2025 để đánh giá 19 vấn đề giai đoạn 2, giai đoạn sẵn sàng mời thầu/đàm phán một hợp đồng cho nhà máy điện hạt nhân đầu tiên.
TS. Hoàng Sĩ Thân, trong bài trình bày ở hội thảo tháng 11/2025, đã nhận xét, các dự án điện hạt nhân mà ông đã đề cập tới đều liên quan đến hai mô hình phổ biến của các dự án công nghệ, đó là mô hình EPC (Engineering – Procurement – Construction), mô hình mà một nhà thầu duy nhất chịu trách nhiệm xử lý một dự án phức tạp từ khởi công đến kết thúc, bao gồm lập toàn bộ thiết kế chi tiết, thiết kế kỹ thuật, thiết kế thi công (Engineering), mua sắm cung cấp, vận chuyển, toàn bộ vật tư, thiết bị, công nghệ cần thiết cho công trình (Procurement), và thi công, lắp đặt, vận hành thử, hiệu chỉnh và bàn giao công trình hoàn thiện, sẵn sàng đưa vào vận hành thương mại (Construction). Đây là mô hình mà các dự án Barakah – UAE; Hinkley Point C – Anh; Sanmen, Haiyang, Taishan – Trung Quốc... đã lựa chọn.
Trong khi đó, còn có một mô hình khác mà ở Việt Nam, người ta vẫn nhắc tới là dự án chìa khóa trao tay (turnkey), mô hình mà tất cả các khâu đều được giao trọn gói cho nhà thầu, nhà cung cấp công nghệ và đến khi dự án kết thúc, vận hành thử đạt yêu cầu sẽ bàn giao cho chủ đầu tư. Tuy rằng có nhiều điểm tương đương tới mô hình EPC nhưng mô hình chìa khóa trao tay trong các dự án điện hạt nhân thường được nhấn mạnh tới việc nhà thầu bàn giao một nhà máy đã được hoàn thiện và sẵn sàng vận hành, còn mô hình EPC nhấn mạnh đến giai đoạn Thiết kế – Mua sắm – Thi công mà chủ đầu tư có thể chủ động tham gia. Các dự án điện hạt nhân vận hành theo cơ chế chìa khóa trao tay là dự án Olkiluoto 3 – Phần Lan; Akkuyu – Thổ Nhĩ Kỳ; Rooppur – Bangladesh và El Dabaa – Ai Cập.
Vậy giữa hai mô hình này, Việt Nam cần cân nhắc mô hình nào? GS. Phạm Duy Hiển, khi phân tích dự án Rooppur của Bangladesh với nhà thầu ROSATOM của Nga, đã phân tích khá thấu đáo "Chấp nhận thể thức chìa khóa trao tay giúp xây lò nhanh, và bên A (Bangladesh) sẽ không chịu thiệt hại nếu bên B làm trễ tiến độ. Nhưng phó thác hết cho bên B trong thi công cũng khó tránh khỏi nhiều rủi ro, ẩn giấu những sai sót có thể ảnh hưởng đến an toàn của nhà máy, nhất là hàng chục năm về sau. Điều này giải thích tại sao một vài lò phản ứng thế hệ III+ xây dựng ở các nước tiên tiến như Phần Lan bị trễ tiến độ trầm trọng do thường xuyên xảy ra tranh chấp giữa hai bên A và B về chất lượng thi công trên công trường".
Nên "thiết lập Văn phòng Quản lý Chương trình (PMO) cấp quốc gia cho điện hạt nhân, liên thông Ban Chỉ đạo - bộ, ngành - địa phương; áp dụng hệ thống quản lý tích hợp (IMS), kiểm soát thay đổi, quản lý rủi ro theo ISO 31000". TS. Hoàng Sĩ Thân |
Dù lựa chọn mô hình nào thì với những dự án lớn và phức tạp như dự án nhà máy điện hạt nhân, cả nhà thầu lẫn quốc gia chủ dự án đều sẽ phải đối mặt với một số vấn đề khác nhau nảy sinh, mà đôi khi do nguyên nhân khách quan, trong quá trình triển khai dự án mà TS. Hoàng Sĩ Thân đã tổng kết: với dự án Vogtle-3&4 theo công nghệ lò phản ứng nước áp lực của Mỹ là chuỗi cung ứng gián đoạn, lỗi chế tạo, nhà thầu phá sản; với dự án Olkiluoto-3 của Phần Lan với công nghệ VVER-1200 là thay đổi thiết kế, lỗi thi công; với dự án Rooppur của Bangladesh theo công nghệ VVER-1200 là do Covid-19, xung đột Nga – Ukraina, đường dây tải điện chưa hoàn thành...
Từ những ưu điểm và nhược điểm của hai mô hình và những rủi ro có thể phát sinh, TS. Hoàng Sĩ Thân cho rằng rất nhiều bài học kinh nghiệm hữu ích với Việt Nam "Mô hình hợp đồng EPC tích hợp có thể phù hợp hơn khi Việt Nam hiện còn thiếu kinh nghiệm nhưng vẫn có mong muốn dần phát triển năng lực nội địa, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực". Tuy nhiên, bên cạnh việc chọn mô hình cho dự án, cần lưu ý đến việc "mô hình quản trị và hợp đồng phải rõ ràng, gắn chặt với các điều kiện trong nước, các mô hình tài chính cần tuân theo theo điều kiện Việt Nam, tính đến lạm phát, rủi ro tỷ giá, và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước – nhà đầu tư – người dùng điện", ông phân tích.
Những bài học khác, tuy không nổi bật như vấn đề tài chính, nhưng TS. Hoàng Sĩ Thân cho rằng rất đáng lưu tâm, đó là có được thiết kế chuẩn hóa, huy động được chuyên gia quốc tế tham gia tư vấn ngày từ tgiai đoạn tiền khả thi và song song với đó nâng cao năng lực chuyên môn và nguồn nhân lực thông qua thiết lập chương trình đào tạo vận hành quy mô lớn, có chương trình học bổng/trao đổi dài hạn với đối tác. Đây sẽ là nguồn nhân lực đảm bảo cho vận hành nhà máy điện hạt nhân an toàn trong tương lai.
Những vấn đề cần giải quyết đế đáp ứng mốc thời gian
Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị đã đặt điện hạt nhân vào tâm điểm chính sách năng lượng của tương lai, khi Việt Nam tiến trên con đường phát triển xanh mà vẫn đảm bảo an ninh năng lượng. Việc ấn định mốc thời gian 2030-2035 tạo xung lực cho dự án Ninh Thuận 1 phát triển nhưng cũng tạo ra những thách thức cần được giải quyết triệt để, khi Việt Nam chưa có kinh nghiệm xây dựng nhà máy điện hạt nhân nào.
Những thách thức ấy có đặt dự án vào thế khó không? có ảnh hưởng đến vận hành an toàn nhà máy trong dài hạn không? TS. Hoàng Sĩ Thân cho biết, việc hóa giải những thách thức đó không dễ nhưng không phải không có giải pháp và "thành công của các dự án Ninh Thuận phụ thuộc quyết định vào chất lượng chuẩn bị (thể chế, nhân lực, tài chính, công nghệ, chuỗi cung ứng) và kỷ luật thực thi theo chuẩn quốc tế".
Ông cho rằng, với các dự án điện hạt nhân ở quốc gia lần đầu xây dựng, quãng thời gian tiêu chuẩn thường rơi vào quãng 10 đến 15 năm khi đảm bảo được tốt 19 yếu tố về cơ sở hạ tầng hạt nhân. Trong trường hợp Việt Nam, khi phấn đấu đạt được mốc thời gian như nghị quyết thì việc thiết kế dự án cần được xem xét và điều chỉnh lại, sao cho quỹ thời gian thực hiện theo các mốc thời gian liên tục, trong đó thời điểm xuất phát T0 được xác định là thời điểm có báo cáo đánh giá cơ sở hạ tầng, trình và điều chỉnh chủ trương đầu tư, có khung đàm phán và tiến hành giải phóng mặt bằng.
Từ tiến độ công việc mà mốc thời gian T0 đã đạt được, dự án điện hạt nhân có thể tiến theo mốc T0+12 tháng, với các nhóm công việc như ban hành Kế hoạch phát triển hạ tầng, tiến hành hiệp định quốc tế và thỏa thuận tín dụng, phê duyệt địa điểm chính thức, báo cáo khả thi, đánh giá môi trường, ban hành quy chuẩn – tiêu chuẩn kỹ thuật nhà máy điện hạt nhân, khởi công hạ tầng chung.
Trên con đường tới một nhà máy hoàn chỉnh, dự án cần phải trải qua hai cột mốc quan trọng là T0+36 tháng - bao gồm khởi công xây dựng, mua sắm thiết bị dài hạn, triển khai đào tạo nhân lực vận hành, xây dựng hệ thống lưới điện đấu nối – và T0+108 tháng - lắp đặt các thiết bị chính như bình sinh hơi, bình chịu áp lực, tuabin – máy phát, và các hệ thống điều khiển – an toàn; Thử nghiệm không tải, chạy thử định kỳ; tổ chức diễn tập ứng phó sự cố.
Đoạn đường chạm đích của dự án điện hạt nhân, nếu đáp ứng mốc thời gian và các nhóm công việc, sẽ là thời điểm T0+ 120 tháng với các công đoạn chuẩn bị cuối cùng: nạp nhiên liệu và đạt tới hạn lần đầu tiên và hòa lưới điện thương mại.
Trên cơ sở phân tích và đúc rút kinh nghiệm từ các dự án quốc tế, TS. Hoàng Sĩ Thân cho rằng, "Việt Nam có cơ hội rút ngắn đường cong học hỏi nếu mạnh dạn chuẩn hóa thiết kế, chuyên nghiệp hóa quản trị dự án, đặt an toàn là giá trị cốt lõi và minh bạch với xã hội". Để đạt được mục tiêu đó, ông kiến nghị một số vấn đề cần được quan tâm giải quyết. Trước hết, đó là đảm bảo được "mô hình quản trị và hợp đồng phải rõ ràng, gắn với các điều kiện trong nước", đi kèm với việc phân tích kỹ các mô hình tài chính, quy định cơ chế chia sẻ rủi ro (lạm phát, tỷ giá, chậm tiến độ) giữa nhà nước – chủ đầu tư – nhà thầu.
Do dự án điện hạt nhân là một dự án quy mô lớn, phức tạp với nhiều bên tham gia trong khi vẫn đảm bảo yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng ở tầm quốc tế, TS. Hoàng Sĩ Thân cho rằng, nên "thiết lập Văn phòng Quản lý Chương trình (PMO) cấp quốc gia cho điện hạt nhân, liên thông Ban Chỉ đạo – bộ, ngành – địa phương; áp dụng hệ thống quản lý tích hợp (IMS), kiểm soát thay đổi, quản lý rủi ro theo ISO 31000".
Song song với đó là việc bảo đảm độc lập cơ quan pháp quy hạt nhân về tổ chức – ngân sách – nhân sự; tăng cường đãi ngộ chuyên gia, xây dựng chương trình đào tạo/giữ chân chuyên gia dài hạn. "Việt Nam có thể xây dựng khung về nguồn nhân lực cho 10 năm, bao gồm bọc bổng, liên kết đại học/viện, chương trình thực tập tại nhà máy đối tác với mục tiêu tối thiểu khoảng 1.200 đến 1.500 nhân sự vận hành/bảo dưỡng cho mỗi dự án 2 tổ máy trong 5 đến 7 năm", ông kiến nghị.
Về công nghệ cho dự án điện hạt nhân, ông cũng kiến nghị cần "chuẩn hóa lựa chọn công nghệ mà quan trọng là ưu tiên thiết kế đã vận hành thương mại, đi kèm với yêu cầu gói cam kết đào tạo, chuyển giao công nghệ, và chương trình bảo hành – dịch vụ dài hạn".
Khi đã đáp ứng được tất cả các điều kiện cần và đủ đó, Việt Nam sẽ sẵn sàng có được nhà máy điện hạt nhân theo đúng tinh thần Nghị quyết 70 cũng như tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm trong cuộc gặp gỡ Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam vào tháng 9/2025 "Tuyệt đối không đánh đổi an toàn lấy tiến độ hay quy mô, kiên định xây dựng văn hóa an toàn là nền tảng, đồng thời phát triển năng lực nội sinh để làm chủ từng cấu phần then chốt và hợp tác quốc tế theo nguyên tắc cùng thiết kế, cùng chế tạo, cùng vận hành, cùng quản lý".
Bài đăng KH&PT số 1375+1376 (số 51+52)
Thanh Nhàn
