Giữa khu vực drone quân sự và phục vụ giám sát, trinh sát tại XPONENTIAL 2026, ông Peter Matthew, giám đốc công ty Aerial Drone Technologies (Canada), dừng khá lâu trước mẫu drone Hera của doanh nghiệp Việt Nam Real-time Robotics.
"Nhiều drone khác nếu muốn nâng tải lớn thì kích thước cũng sẽ rất lớn, không còn tính cơ động nữa", ông Peter Matthew nhận xét. "Điểm khác biệt của drone này là chỉ một người có thể mang cả hệ thống trong một ba lô, nhưng drone gấp gọn này vẫn nâng được tải trọng tới 20 kg".
TS. Lương Việt Quốc, nhà sáng lập Real-time Robotics, giải thích về các tính năng của Hera cho khách tham quan tại XPONENTIAL 2026. Ảnh: Thu Quỳnh
Tại gian hàng, TS. Lương Việt Quốc, nhà sáng lập Real-time Robotics (RtR), giới thiệu Hera có thể mang nhiều thiết bị phục vụ đánh giá giám sát, có đồng thời bốn camera, tích hợp AI để xử lý dữ liệu trực tiếp trên drone. Hera cũng được chú ý nhờ có thể gắn kèm bộ thu sóng và router wifi để trực tiếp kết nối với hệ thống internet vệ tinh Starlink, nhằm mở rộng khoảng cách vận hành, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào liên lạc vô tuyến thông thường.
Tải trọng và khả năng cơ động cao của Hera là những ưu thế từ sáng chế thiết kế của RtR mà ông Peter Matthew cho rằng rất quan trọng, giúp mở ra nhiều ứng dụng mới cho ngành drone công nghiệp và giám sát.
"Khả năng mang nhiều tải trọng chỉ là một nửa vấn đề. Nửa còn lại là khi gấp lại, drone vẫn phải đủ nhỏ gọn", ông nói. Kích thước nhỏ gọn nhưng tải nặng là bài toán khó của drone. Ông cho biết công ty mình đã sử dụng nhiều dòng drone thương mại của các hãng lớn khác trên thị trường nhưng để có tải trọng lớn thì đều phải chấp nhận cồng kềnh, không linh hoạt cơ động.
Khách tham quan dừng lại lâu và tìm hiểu kỹ lưỡng về drone Hera. Ảnh: Võ Khánh
Từ kinh nghiệm vận hành dịch vụ drone giám sát cho các đối tác, ông rất quan tâm đến khả năng Hera vừa bay theo một hướng nhưng vẫn có thể quan sát theo hướng khác nhờ cách bố trí các camera cảm biến. "Thông thường mọi người quen với việc camera hay cảm biến chỉ nhìn theo đúng hướng drone đang bay. Nhưng trong thực tế, dữ liệu quan trọng đôi khi lại nằm phía ngược lại", ông nói.
Peter Matthew cho rằng đây là hướng phù hợp cho các hệ thống giám sát, phát hiện những thay đổi theo thời gian thực khi giám sát trên diện tích rộng hoặc trinh sát, khi đó drone cần theo dõi liên tục nhiều góc quan sát khác nhau thay vì chỉ tập trung vào hướng di chuyển.
Cùng với RtR, tại XPONENTIAL 2026 còn có Gremsy, doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gimbal và camera chống rung (còn gọi là "mắt thần" cho drone) đi Mỹ và châu Âu, dành cho drone giám sát, khảo sát và công nghiệp. Gần đây, một payload của công ty cũng đã có mặt trong danh mục Blue UAS của Mỹ - chương trình đánh giá các thiết bị tin cậy, có nguồn gốc tin cậy để bán cho quân đội Mỹ. Các startup SaolaTek, XBLink và Rustech cũng có mặt trong gian hàng của Khu Công nghệ cao TP HCM để giới thiệu drone dành cho giáo dục và phần mềm cho drone.
Cái tên Việt Nam được ông Michael Robbins, Chủ tịch Hiệp hội Tự hành Toàn cầu (AUVSI), đơn vị sở hữu và điều hành sự kiện XPONENTIAL, nhắc đến trong bài phát biểu khai mạc, trong nhóm các thị trường được kết nối tại triển lãm năm nay, cùng Canada, Đài Loan và Ukraine - đánh dấu sự có mặt của Việt Nam trên bản đồ của ngành drone toàn cầu.
Gian hàng các "mắt thần" cho drone của Gremsy. Ảnh: Thu Quỳnh
Chuyển từ trình diễn công nghệ sang khẳng định năng lực công nghiệp
Theo AUVSI, chỉ riêng từ năm 2025 tới nay đã có gần 47 tỷ USD vốn tư nhân đổ vào ngành công nghiệp tự hành tại Mỹ. Hơn 170 công ty Mỹ trong ngành này đã huy động được vốn từ đầu năm 2025, với sự tham gia của hơn 400 nhà đầu tư khác nhau.
Không khí tại XPONENTIAL 2026 cho thấy ngành drone đang thay đổi nhanh. Nếu vài năm trước, các drone tại Triển lãm chủ yếu xoay quanh những mẫu drone mới và các màn trình diễn công nghệ, thì năm nay, ngày càng nhiều công ty tập trung vào từng mắt xích trong chuỗi sản xuất.
Các gian hàng trải dài từ camera giám sát, gimbal chống rung, pin, radar, hệ thống liên lạc, autonomy stack (hệ thống tự hành), AI cho tới công nghệ chống nhiễu và phần mềm điều khiển đội bay..., cho thấy chuỗi giá trị ngành. "Trọng tâm đang dịch chuyển từ phát minh sang tích hợp, sản xuất, xây dựng niềm tin và quy mô triển khai thực tế", ông Michael Robbins nói trong phát biểu khai mạc.
Thông điệp này xuất hiện trong nhiều phiên thảo luận về drone quân sự, logistics, chuỗi cung ứng cho sản xuất drone, đặc biệt là cung ứng nội địa ngay tại Mỹ. "Quy mô, tốc độ và khả năng triển khai thực tế", "quy mô sản xuất giờ đây đã trở thành một yêu cầu cho quốc phòng", Robbins nhấn mạnh nhiều lần.
Một doanh nghiệp in 3D quảng bá khả năng in 3D các chi tiết cho drone dân sự, giúp các công ty drone sản xuất lên tới quy mô 10 nghìn drone/tháng. Dấu hiệu này cho thấy drone đang bắt đầu bước vào giai đoạn công nghiệp chứ không chỉ công nghệ demo. Ảnh: Thu Quỳnh
Nhiều doanh nghiệp tại Triển lãm gần như không trưng bày drone hoàn chỉnh, mà chỉ giới thiệu về năng lực sản xuất, cung ứng linh kiện. Tại gian trưng bày của mình, Impossible Objects treo khẩu hiệu lớn "Print 10,000 Drones a Month" (In 10.000 drone mỗi tháng). Doanh nghiệp này giới thiệu công nghệ in 3D composite cho các linh kiện drone như khung, cánh quạt hay cấu kiện nhẹ bằng carbon fiber nhằm tăng tốc độ sản xuất hàng loạt cho các hãng drone.
Drone đang trở thành hạ tầng mới
Quan sát tại Triển lãm cho thấy drone không còn chỉ gắn với quay phim hay quân sự, mà đang len vào ngày càng nhiều ngành công nghiệp và hạ tầng. Các công ty trình diễn hệ thống drone kiểm tra đường điện, đường sắt, dầu khí, cảng biển, khai mỏ, nông nghiệp và logistics. Nhiều hệ thống tích hợp AI để phát hiện hư hỏng hạ tầng hoặc lập bản đồ 3D theo thời gian thực.
Một số doanh nghiệp giới thiệu drone có thể bay liên tục nhiều giờ để giám sát công trường, biên giới hoặc các sự kiện lớn. "Ngành này giờ đây không còn chỉ chứng minh công nghệ hoạt động được hay không, mà đang hiện diện trong nền kinh tế, an toàn công cộng, hạ tầng trọng yếu, quốc phòng và các hoạt động thường nhật mà con người phụ thuộc vào", Robbins nói.
Trong nhiều phiên tọa đàm, các diễn giả cũng liên tục nhắc tới khái niệm drone như một "lớp hạ tầng mới" cho nền kinh tế số và công nghiệp. Khái niệm BVLOS (bay vượt ngoài tầm quan sát), được đề cập đặc biệt nhiều tại sự kiện. Đây được xem là chìa khóa để drone chuyển từ các thử nghiệm nhỏ sang vận hành thương mại quy mô lớn.
Theo AUVSI, hiện Mỹ đã có khoảng 920 giấy phép BVLOS cho drone hoạt động và số lượng phê duyệt năm 2025 gần gấp đôi năm trước. Hiện ở Mỹ đã có hơn một triệu hệ thống thiết bị bay không người lái (UAS) được đăng ký bởi hơn 40.000 tổ chức khác nhau. [UAS bao gồm UAV, trạm điều khiển mặt đất, hệ thống liên lạc và truyền dữ liệu, phần mềm điều khiển.]
Đài Loan nổi lên trong chuỗi cung ứng drone
Xuất hiện đông đảo, các công ty Đài Loan (Trung Quốc) cùng tập trung tại khu trưng bày lớn và được đầu tư bài bản, tập trung mạnh vào linh kiện, hệ thống phụ trợ và chuỗi cung ứng drone. Các doanh nghiệp cho biết Đài Loan có 40 đơn vị cùng tham dự sự kiện, cùng trong một khu vực riêng của triển lãm.
Sự chuẩn bị của Đài Loan cho công nghiệp drone rất đáng chú ý: các gian hàng quảng bá khả năng cung ứng cả drone và toàn bộ các thành phần trong chuỗi giá trị. Khi được phỏng vấn, Giám đốc vận hành Công ty Jin Minh cho biết trong chuỗi này, Đài Loan có ưu thế nhờ vào nền công nghiệp điện, điện tử lâu năm và đặc biệt mạnh ở Chip, AI. Ảnh: Thu Quỳnh
Robbins cũng nhấn mạnh việc Mỹ và các đồng minh đang tìm cách xây dựng chuỗi cung ứng tin cậy ("trusted supply chain") ngoài Trung Quốc. Năm nay, AUVSI đã mở rộng chương trình Green UAS ra quốc tế thông qua hợp tác với Đài Loan nhằm xây dựng hệ sinh thái drone tin cậy giữa các đối tác đồng minh.
Green UAS hiện cũng được xem là một cách tiếp cận nhanh hơn, để đạt được Blue UAS - chương trình đánh giá các thiết bị tin cậy, có nguồn gốc tin cậy để bán cho quân đội Mỹ, Chính phủ Mỹ, được coi là "giấy thông hành" vào thị trường Mỹ - và các chương trình miễn trừ liên quan tới danh sách hạn chế các thiết bị/ nhà cung ứng bị coi là rủi ro an ninh quốc gia của tại Mỹ.
Khác với hình ảnh các startup trình diễn thiết bị bay hoàn chỉnh, các doanh nghiệp Đài Loan mang tới module truyền dẫn, chip, cảm biến, hệ thống liên lạc, camera và giải pháp sản xuất công nghiệp.
Ông Alson Chein, Phó chủ tịch và Giám đốc vận hành, công ty Jin Ming cho biết doanh nghiệp nhà nước này sản xuất drone với 100% các bộ phận, từ phần mềm tới phầm cứng, ở tại Đài Loan, và ngành sản xuất drone Đài Loan có thể tự sản xuất trong nước khoảng 6.000 linh kiện cho chuỗi drone. Khẳng định này phản ánh rõ tham vọng xây dựng và kiểm soát toàn chuỗi cung ứng drone.
Những thay đổi tại XPONENTIAL cho thấy drone đang đi theo con đường tương tự pin xe điện hay bán dẫn, tức là từ một công nghệ mới trở thành cuộc đua về sản xuất, chuỗi cung ứng, năng lực công nghiệp quy mô lớn. Các bên giờ đặc biệt chú trọng yếu tố địa chính trị với xu hướng thúc đẩy tập trung vào sản xuất trong nước hoặc các liên minh, đối tác tin cậy. Financial Times và New York Times gần đây cũng ghi nhận Mỹ và Đài Loan đang thúc đẩy hợp tác xây dựng chuỗi cung ứng drone [1].
---
Tham khảo:
[1] The New York Times (2026). Taiwan and U.S. Work to Counter China’s Drone Dominance.