Nguy cơ chồng chéo các quy định về truy xuất nguồn gốc

Theo phản ánh của các doanh nghiệp, các quy định trong Dự thảo Thông tư quy định quản lý về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa chỉ phù hợp với các đối tượng sản xuất công nghiệp quy mô lớn, có tính đồng nhất cao mà không phù hợp với các đối tượng nông sản có đặc điểm đồng nhất toàn chuỗi thấp.

Góp ý về Dự thảo Thông tư quy định quản lý về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóaLiên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá, các quy định trong dự thảo này có nguy cơ không thống nhất, chồng chéo với các quy định về truy xuất nguồn gốc khác do các Bộ chuyên ngành ban hành, chẳng hạn như Thông tư 25/2019/TT-BYT, Thông tư 17/2021/TT-BNNPTNT.

Theo phản ánh của các doanh nghiệp, các quy định trong Dự thảo chỉ phù hợp với các đối tượng sản xuất công nghiệp quy mô lớn, có tính đồng nhất cao mà không phù hợp với các đối tượng nông sản có đặc điểm đồng nhất toàn chuỗi thấp. Ví dụ, mã truy xuất nguồn gốc, vật mang dữ liệu,… áp dụng cho các công đoạn sơ chế, chế biến sản phẩm chăn nuôi, thuỷ sản,… là không khả thi.

Ngoài ra, nhiều quy định tại Dự thảo không thống nhất với các quy định khác. Chẳng hạn, Thông tư 25/2019/TT-BYT, và Thông tư 17/2021/TT-BNNPTNT đã quy định về các thông tin lưu trữ, và phân theo lô sản xuất, trong khi Dự thảo mới lại quy định các thông tin lưu trữ theo công đoạn.

Mặc dù, Điều 7.2 của Dự thảo đã giao việc xác định nhóm sản phẩm, hàng hoá bắt buộc thực hiện, ưu tiên triển khai cho từng bộ, ngành. Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa xác định được hiệu lực giữa các văn bản nói trên, chẳng hạn nếu xác định nhóm hàng nông sản thuộc nhóm bắt buộc thực hiện thì thực hiện theo Dự thảo hay Thông tư 17/2021/TT-BNNPTNT?

Do vậy, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát lại các quy định trong Dự thảo, trong đó, cân nhắc bổ sung quy định loại trừ phạm vi áp dụng với một số sản phẩm, hàng hoá đã được điều chỉnh theo pháp luật chuyên ngành.

Bên cạnh đó, Điều 5.4 của Dự thảo quy định về việc kết nối hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá quốc gia. Tuy nhiên, theo VCCI, quy định trên còn tương đối chung chung, không rõ ràng, và do đó có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình thực thi.

Về vấn đề này, theo VCCI, cần làm rõ một số vấn đề: Việc kết nối lên Cổng thông tin có bắt buộc hay không? Yêu cầu kỹ thuật và trình tự, thủ tục kết nối với Cổng thông tin như thế nào? Được quy định ở đâu?

Ngoài ra,Điều 12 của Dự thảo quy định các hệ thống truy xuất nguồn gốc đã vận hành phải thực hiện đánh giá sự phù hợp theo quy định tại Điều 5. Tuy nhiên, Dự thảo không có quy định về thời hạn chuyển tiếp để doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu mới.

Như vậy, doanh nghiệp sẽ phải đáp ứng các yêu cầu này tại thời điểm Thông tư có hiệu lực. Trong khi đó, thời điểm có hiệu lực của Thông tư (kể từ khi ban hành) thường tương đối ngắn. “Việc này có thể khiến các doanh nghiệp bị động, gặp khó khăn trong việc nghiên cứu, chuẩn bị và đáp ứng các yêu cầu này”, VCCI nhận định.

Do đó, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung thời hạn chuyển tiếp, có thể cân nhắc khoảng thời gian 1 năm.

Trang Phạm

Tác giả