Giáo dục đại học bản chất sâu xa không phải là một bậc học kéo dài thụ động sau phổ thông, mà là cỗ máy đào tạo ra tầng lớp trí thức rường cột nhằm dẫn dắt vận mệnh quốc gia. "Sứ mệnh của đại học là gì?" luôn là một câu hỏi sống còn về mặt triết lý. Việc tuyển chọn đầu vào ở bậc đại học do đó cần đáp ứng và phản ánh chính xác triết lý phát triển đại học của mỗi quốc gia. Trong thế giới đầy biến động, bất định, phức tạp và mơ hồ, nơi khoảng 80% công việc của năm 2030 chưa từng xuất hiện, đại học không thể chỉ đóng vai trò "dạy nghề" nhằm "đặt" sinh viên của ngày hôm nay vào một vị trí công việc cụ thể nào đó trong xã hội của 4-6 năm sau mà phải là nơi lưu giữ tri thức, huấn luyện tư duy và trực tiếp tạo ra kiến thức mới.
Ảnh minh họa: Thanh Tùng
Khảo sát hệ thống giáo dục đại học thế giới có thể thấy nổi lên ba mô hình tổ chức tuyển sinh điển hình đại diện cho các triết lý phát triển khác nhau:
Mô hình sàng lọc khốc liệt ngay từ cổng vào (Đông Á): Các quốc gia như Trung Quốc với kỳ thi Cao khảo hay Hàn Quốc với kỳ thi Suneung kiên quyết duy trì kỳ thi tuyển sinh quốc gia tập trung. Thi cử ở đây là cuộc chiến phân tầng xã hội, sàng lọc để tuyển chọn những bộ óc xuất sắc nhất vào các đại học trọng điểm, đại học quốc gia.
Mô hình mở rộng đầu vào kết hợp đào thải khắt khe đầu ra (châu Âu): Ở Pháp, kỳ thi Tú tài (Baccalauréat) mở rộng cửa vào các trường đại học công lập, nhưng duy trì cơ chế "siết: đầu ra với tỷ lệ đào thải năm thứ nhất lên tới 40–50%. Đồng thời, hệ thống Grandes Écoles chuyên đào tạo tinh hoa chính trị và kinh tế vẫn duy trì hai năm dự bị khắc nghiệt và kỳ thi tuyển cực kỳ nghiêm cẩn. Tại Phần Lan, Kỳ thi Trúng tuyển Quốc gia (Matriculation Examination) đánh giá kiến thức và khả năng đọc hiểu, phân tích, lập luận của học sinh. Kết quả kỳ thi được sử dụng trong tuyển sinh đại học, bên cạnh các hình thức tuyển chọn riêng của từng trường hoặc chương trình.
Mô hình đánh giá toàn diện và phân tầng thứ hạng (Mỹ và Úc): Mỹ áp dụng triết lý xét tuyển toàn diện nhằm tìm kiếm sự phù hợp tối ưu giữa người học và sứ mạng riêng biệt của từng trường. Phương thức này kết hợp điểm thi chuẩn hóa độc lập (SAT, ACT) tổ chức quanh năm với phân tích đa chiều: bài luận cá nhân nhằm đánh giá tư duy, động lực và cá tính; thư giới thiệu của giáo viên/chuyên gia xác nhận năng lực và phẩm chất; hoạt động ngoại khóa, năng lực lãnh đạo và đóng góp cộng đồng; và hoàn cảnh sống/vượt khó. Trong khi đó, Úc sử dụng chỉ số thứ hạng ATAR phản ánh vị trí tương đối của học sinh trong nhóm cùng độ tuổi, làm một căn cứ quan trọng để tuyển sinh đại học. Cả hai quốc gia đều sở hữu cơ chế thải loại liên tục qua từng tín chỉ.
Hiện nay, tuyển sinh đại học ở Việt Nam được tổ chức theo cơ chế các trường đại học tự chủ tuyển sinh trong khuôn khổ quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thí sinh có thể sử dụng nhiều loại kết quả và phương thức xét tuyển (dựa trên điểm thi tốt nghiệp THPT, học bạ, kỳ thi đánh giá năng lực hoặc đánh giá tư duy...), chứ không còn kỳ thi tuyển sinh đại học riêng trên toàn quốc. Đây dường như là điểm chúng ta học tập từ phương Tây.
Cơ chế tuyển sinh này giúp giảm số kỳ thi mà học sinh phải tham dự, nhưng quá trình thực hiện cũng bộc lộ một số bất cập. Thi tốt nghiệp THPT là kỳ thi đánh giá diện rộng, nhằm xác định học sinh đã đạt yêu cầu của chương trình phổ thông hay chưa; trong khi đó tuyển sinh đại học lại cần phân hóa, sàng lọc để lựa chọn người phù hợp với từng ngành, trường. Bắt một kỳ thi "gánh" cả hai mục tiêu vốn trái ngược nhau khiến nó rơi vào trạng thái "lơ lửng": vượt quá đòi hỏi của kỳ thi xét tốt nghiệp THPT nhưng vẫn không đủ sâu để phân loại thí sinh đại học.
Trong khi đó, các phương thức xét tuyển khác như xét học bạ lại khá vô thưởng vô phạt, còn phương thức cộng điểm cho chứng chỉ ngoại ngữ lại có khả năng gây mất công bằng.
Mặt khác, đa dạng hóa phương thức xét tuyển đại học theo cách làm hiện nay có thể tạo kẽ hở để một số trường hạ chuẩn đầu vào, "vét" thí sinh. Khi kết hợp với việc kiểm soát chất lượng đào tạo và đánh giá đầu ra thiếu khắt khe, cơ chế tuyển sinh hiện nay có nguy cơ góp phần làm giảm giá trị của bằng cấp.
Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải tách bạch kỳ thi tốt nghiệp THPT và kỳ thi tuyển sinh đại học và loại bỏ các phương thức tuyển sinh thiếu thực chất. Đến đây, chắc hẳn độc giả sẽ đặt câu hỏi, phải chăng người viết đề xuất quay lại phương án tuyển sinh đại học như trước năm 2015? Câu trả lời là không, bởi những phương án chúng tôi đề xuất dưới đây hoàn toàn khác về bản chất so với các kỳ thi từ trước đến nay ở Việt Nam.
Cụ thể, chúng tôi đề xuất giao quyền tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT về cho 34 tỉnh/thành phố. Các địa phương tự ra đề, coi thi, chấm thi, cấp bằng và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Song song với việc phân cấp kỳ thi THPT về địa phương, Nhà nước tiến hành tổ chức Kỳ thi Quốc gia Tuyển sinh Đại học (National University Entrance Test - NUET). Trước đây, chúng ta từng có những kỳ thi như vậy, được tổ chức theo các "Khối thi" (A, B, C, D). Thí sinh phải dồn về các đô thị lớn trong hai-ba đợt cố định hằng năm, gây quá tải hạ tầng, tốn kém chi phí xã hội khủng khiếp. Đề thi cũng nặng về học thuộc lòng và mẹo mực.
Còn qua bài viết này, chúng tôi muốn đề xuất một kỳ thi chuẩn hóa, vận hành linh hoạt trên máy tính, được tổ chức nhiều đợt trong năm, tương tự mô hình SAT/ACT của Mỹ. Thí sinh có thể dự thi bất kỳ lúc nào khi cảm thấy sẵn sàng về trí tuệ và tâm lý, xóa bỏ hoàn toàn áp lực "sinh tử" như ở các kỳ thi đại học trước đây.
Trong kỳ thi NUET, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ giữ vai trò kiến tạo vĩ mô, thành lập các Trung tâm Khảo thí Quốc gia Độc lập đặt tại các cụm vùng miền (ban đầu là ba trung tâm tại ba miền, tiến tới mở rộng mạng lưới). Kết quả thi được chuyển tức thì về Trung tâm Tuyển sinh Quốc gia thuộc Bộ.
Kỳ thi có thể tổ chức thi trên máy tính áp dụng thuật toán mã hóa đề thi và xáo trộn câu hỏi tự động (dựa trên Lý thuyết Ứng đáp Câu hỏi - IRT), giúp triệt tiêu nạn lộ đề thi, gian lận học bạ hay can thiệp chạy điểm con người.
Đồng thời, thay vì kiểm tra học thuộc lòng hay mẹo vặt, kỳ thi tập trung đo lường ba trụ cột tư duy:
Tư duy định lượng và logic học thuật đánh giá năng lực suy luận toán học, phân tích dữ liệu, mô hình hóa logic và giải quyết vấn đề bằng công cụ định lượng chuẩn hóa. Đánh giá này có thể phục vụ việc sàng lọc thí sinh cho các ngành Khoa học tự nhiên, Kỹ thuật, Công nghệ, Kinh tế lõi và Tài chính.
Tư duy định tính và biện luận đánh giá khả năng đọc hiểu phản biện, phân tích văn bản đa chiều, lập luận logic và ngôn ngữ hàn lâm trong bối cảnh phức hợp. Đánh giá này có thể phục vụ việc sàng lọc thí sinh cho các ngành Khoa học xã hội, Luật, Nhân văn, Báo chí, Truyền thông và Quản trị.
Tư duy giải quyết vấn đề khoa học đánh giá năng lực áp dụng nguyên lý khoa học cơ bản (Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ số, AI) vào giải quyết thực tiễn. Đánh giá này có thể phục vụ việc sàng lọc thí sinh cho các ngành Khoa học xã hội, Luật, Nhân văn, Báo chí, Truyền thông và Quản trị qua phục vụ việc sàng lọc cho các ngành Y Dược, Nông nghiệp công nghệ cao, Công nghệ sinh học, Bán dẫn, AI, Năng lượng mới.
Phương án tuyển sinh đại học như đã nêu hoàn toàn khả thi khi xét đến thực tế hiện nay Việt Nam đã có các trung tâm khảo thí của ĐH Quốc gia Hà Nội (HSA), ĐH Quốc gia TP.HCM (APT) và ĐH Bách khoa Hà Nội (TSA). Các trung tâm này đều có từ 5-8 năm vận hành thành công các kỳ thi Đánh giá năng lực/tư duy trên máy tính với ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa hàng chục nghìn câu.
Bên cạnh đó, phương án này cũng khả thi về mặt đầu tư: chi phí xây dựng ngân hàng câu hỏi và hạ tầng công nghệ thông tin là khoản đầu tư tài sản cố định ban đầu, còn ngân hàng đề thi chuẩn hóa có thể tái sử dụng và bổ sung cuốn chiếu qua nhiều năm. Các trung tâm khảo thí có thể vận hành theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ hoặc tổ chức phi lợi nhuận (tương tự ETS/College Board của Mỹ). Lệ phí thi do thí sinh chi trả sẽ bù đắp toàn bộ chi phí vận hành máy tính, điện năng và nhân sự khảo thí.
Lộ trình triển khai có thể diễn ra theo ba giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1, thành lập ba Trung tâm Khảo thí Quốc gia đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM trên cơ sở hợp nhất hạ tầng khảo thí của các đại học lớn.
Giai đoạn 2, ủy quyền và chuẩn hóa các trung tâm khảo thí vệ tinh tại các trường đại học trọng điểm vùng.
Giai đoạn 3, tổ chức thi liên tục hằng tháng, thí sinh có thể đăng ký thi linh hoạt tại bất kỳ trung tâm nào trên toàn quốc.
Đổi mới tuyển sinh đại học không đơn thuần là sự thay đổi kỹ thuật khảo thí, mà là một bước ngoặt nhằm giải phóng giáo dục phổ thông khỏi áp lực học thuật khiên cưỡng, đồng thời cung cấp cho hệ thống đại học một thước đo chuẩn hóa khách quan, minh bạch và có tính phân hóa cao.