Xã hội cần nhưng thị trường không muốn làm
Từ góc độ kinh tế, phát triển thuốc kháng sinh điều trị các bệnh do vi khuẩn gây ra không hấp dẫn bằng phát triển thuốc ung thư lợi nhuận cao hay thuốc cho các bệnh mạn tính như tim mạch, béo phì, đái tháo đường phải dùng nhiều năm. Kháng sinh dùng ngắn ngày, giá thành thấp, và được khuyến nghị hạn chế để ngăn kháng thuốc; trong khi đầu tư thì cao, mất nhiều năm và khả năng thành công thấp. Do đó, dù lợi ích xã hội của kháng sinh mới rất lớn, lợi ích tài chính lại không đủ để thu hút đầu tư.
Nhiều hãng dược lớn đã giảm hay rút hoàn toàn khỏi mảng R&D về kháng sinh. Chỉ còn một số ít quan tâm mua lại hay hợp tác phát triển với hãng khác cho sản phẩm đã hoàn thành giai đoạn thử nghiệm lâm sàng pha II hay III nhằm giảm rủi ro về tác dụng hay độc tính của thuốc dù phải trả giá cao.
Dù lợi ích xã hội của kháng sinh mới rất lớn, lợi ích tài chính lại không đủ để thu hút đầu tư. Ảnh: Unsplash
Trước thực tế này, nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế buộc phải can thiệp bằng các công cụ chính sách theo hướng "đẩy" và "kéo" (push – pull). Điểm chung của cả hai nhóm là chia sẻ rủi ro giữa khu vực công và khu vực tư.
Nếu nhóm "đẩy" tập trung hỗ trợ từ giai đoạn đầu của nghiên cứu và phát triển (R&D) như tài trợ khoa học, ưu đãi thuế, đầu tư cho tiền lâm sàng, hỗ trợ hạ tầng và phòng thí nghiệm thì nhóm "kéo" lại hướng tới việc tạo động lực ở "đầu ra", tức sau khi sản phẩm đã hoàn thiện. Cụ thể, các cơ chế "kéo" nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp vẫn có thể thu hồi vốn và có lợi nhuận ngay cả khi thuốc kháng sinh mới bị hạn chế sử dụng. Những công cụ được áp dụng bao gồm khoản thưởng khi thuốc được cấp phép lưu hành, cam kết mua trước từ phía nhà nước, hay các hợp đồng dài hạn bảo đảm doanh thu.
Đáng chú ý, một số quốc gia như Vương quốc Anh đã thử nghiệm mô hình thanh toán theo dạng "đăng ký" (subscription), thay vì trả tiền dựa trên số lượng thuốc tiêu thụ, chính phủ chi trả một khoản cố định hằng năm cho doanh nghiệp, tương tự phí thuê bao dịch vụ. Cách tiếp cận này giúp tách bạch doanh thu của nhà sản xuất khỏi khối lượng sử dụng thực tế, qua đó vừa khuyến khích đổi mới, vừa bảo đảm việc sử dụng kháng sinh một cách thận trọng vì lợi ích sức khỏe cộng đồng.
Ngoài ra, còn có các tổ chức tài trợ làm cầu nối giữa nghiên cứu và phát triển như CARB-X (trụ sở ở Boston, Mỹ) hỗ trợ rất sớm cho các dự án có tính mới cao nhưng rủi ro lớn; GARDP (Geneva, Thụy Sĩ) đi xa hơn về mặt phát triển và tiếp cận lâm sàng; AMR Action Fund (Boston, Mỹ), được hậu thuẫn bởi nhiều hãng dược lớn.
Với Việt Nam, bài toán kinh tế còn khó hơn vì phần lớn doanh nghiệp dược nội địa đang vận hành theo mô hình sản xuất nhanh và quay vòng vốn ngắn nên phải ưu tiên thị trường thuốc generic, tức những loại thuốc cũ, đã hết bảo hộ bản quyền, chỉ cần nhập khẩu hoạt chất để bào chế, đóng gói và phân phối. Kết quả là, Việt Nam đã có công nghiệp kháng sinh theo nghĩa "sản xuất", với một số công ty thuốc sản xuất kháng sinh đạt chuẩn GMP-WHO hay GMP-EUROPE, nhưng ít nơi có khả năng làm R&D để cho ra những loại thuốc mới có giá trị cao hơn nhiều thuốc generic.
Nhân viên kỹ thuật vận hành dây chuyền tại nhà máy sản xuất thuốc kháng sinh nhóm betalactam của Dược Hậu Giang, cơ sở vừa đạt chứng nhận chuẩn EU-GMP vào cuối năm 2025. Ảnh: Thanh Đoàn/VnExpress
Thuốc generic tiếp tục có vai trò quan trọng trong bảo vệ sức khỏe. Tuy nhiên, trong cuộc chiến với vi khuẩn, rất cần chuẩn bị cơ sở vật chất và nhân lực để có thể tham gia nỗ lực toàn cầu tạo ra những loại thuốc kháng sinh mới dùng trong trường hợp thuốc generic mất tác dụng với vi khuẩn kháng thuốc.
Đầu tư vào kháng sinh mới đòi hỏi một tư duy hoàn toàn khác là chấp nhận rủi ro, chấp nhận thời gian dài, chấp nhận các vòng thử nghiệm thất bại và chấp nhận rằng thành công không đến ngay. Nếu thiếu những tín hiệu chính sách đủ mạnh, rất khó mong chờ khu vực tư nhân tự bước sâu vào mảng nghiên cứu và phát triển thuốc kháng sinh.
Vai trò "kéo" và "đẩy" của nhà nước
Việt Nam đã và đang đối mặt với tốc độ gia tăng vi khuẩn kháng thuốc cao hàng đầu khu vực. Do đó, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển thuốc kháng sinh là cam kết đối với sức khỏe cộng đồng và tương lai hệ thống y tế. Để tạo bước tiến trong lĩnh vực này, Việt Nam cần một chiến lược tổng thể, kết hợp cả yếu tố chính sách, tổ chức, tài chính và nhân lực.
Theo đó, trước hết cần xây dựng một trung tâm hoặc mạng lưới đổi mới kháng sinh có khả năng kết nối viện trường, bệnh viện và doanh nghiệp. Trung tâm này không nhất thiết phải quá lớn, nhưng cần có năng lực dùng chung gồm sàng lọc, xác định hoạt tính, thử độc tính sơ bộ, phân tích cơ chế và hỗ trợ quản trị dữ liệu. Khi không có một đầu mối như vậy, các nhóm nghiên cứu sẽ rất khó tích lũy năng lực và khó tạo ra hiệu ứng cộng hưởng.
Phân lập vi khuẩn trong phòng thí nghiệm phục vụ kiểm tra độ nhạy kháng sinh. Ảnh: Shutterstock
Thứ hai, cần thiết kế cơ chế tài trợ dài hạn 5-7 năm. Kháng sinh không phải lĩnh vực có thể đòi kết quả trong một vài năm. Những đề tài có tiềm năng cần được hỗ trợ theo giai đoạn, với các cột mốc rõ ràng từ ý tưởng, đến hợp chất dẫn, chứng minh khái niệm, tiền lâm sàng. Cách đánh giá cũng cần chuyển từ số lượng bài báo sang năng lực tạo ra tài sản khoa học và công nghệ cụ thể.
Thứ ba, cần phát triển nhân lực liên ngành có số lượng tới hạn (critical mass) với chuyên môn thích hợp. Không chuyên ngành riêng lẻ nào có thể tự mình thực hiện trọn vẹn quá trình làm ra một kháng sinh mới. Quá trình này đòi hỏi sự tham gia của hóa học hữu cơ, hóa dược, vi sinh, sinh học phân tử, dược lý, tin sinh học, mô hình động vật, lâm sàng và cả hiểu biết về thương mại hóa để đưa thuốc ra thị trường. Vì thế, các trường đại học và viện nghiên cứu cần tạo ra những chương trình đào tạo mới, nơi sinh viên và nghiên cứu viên được làm việc theo nhóm đa ngành từ rất sớm và được thực tập ở các công ty.
Thứ tư, cần xây dựng một nền tảng dữ liệu và chủng vi sinh chuẩn hóa. Việt Nam có các chủng vi sinh gây bệnh, kháng thuốc đặc thù và năng lực thử thuốc tại bệnh viện. Thêm nữa, Việt Nam có lợi thế đa dạng sinh học, đặc biệt ở các hệ sinh thái biển, rừng và đất nhiệt đới. Đây là nguồn tiềm năng cho các hoạt chất tự nhiên mới, bao gồm chất kháng khuẩn, chất ức chế độc lực và các tiền chất cấu trúc để tối ưu hóa. Tuy nhiên, để biến lợi thế sinh học thành lợi thế công nghệ, cần một hạ tầng chuẩn hóa cho thu mẫu, phân lập, sàng lọc, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu. Bởi vậy, Việt Nam cần ngân hàng chủng vi khuẩn kháng thuốc, chủng sản xuất kháng sinh, dữ liệu lâm sàng được quản lý tốt, và cơ chế chia sẻ nguồn lực nghiên cứu hợp lý. Không có dữ liệu chuẩn, mọi nỗ lực tìm kháng sinh mới sẽ bị giới hạn ở mức manh mún. Đây là điều đặc biệt quan trọng vì kháng sinh là lĩnh vực mà dữ liệu thực tế có thể quyết định thắng bại của cả một chương trình R&D.
Thứ năm, khuyến khích khởi nghiệp và đầu tư mạo hiểm trong y sinh. Phân tích của Pew Charitable Trust cho thấy phần lớn kháng sinh mới trong danh mục đang được nghiên cứu và phát triển trên toàn cầu đến từ các công ty nhỏ và startup, không phải từ các nhà sản xuất thuốc generic lớn. Startup đóng vai trò quan trọng ở giai đoạn đầu với sự linh hoạt, tập trung và sẵn sàng thử nghiệm các ý tưởng mới. Nhưng để đi xa, startup cần có sự kết nối với hệ sinh thái rộng hơn gồm nhà đầu tư, đối tác công nghiệp, tổ chức hỗ trợ và cơ chế khuyến khích phù hợp.
Nếu tạo được môi trường tốt, Việt Nam có thể hình thành những nhóm nhỏ nhưng linh hoạt, tập trung vào các bài toán cụ thể. Để giúp giảm chi phí, tăng tốc độ, và cho phép các nhóm hay công ty nhỏ làm nghiên cứu mà không phải đầu tư lớn hay tự làm mọi công đoạn, cần thành lập các cơ sở nghiên cứu dùng chung trang thiết bị chính (core facilities hay incubators) cũng như tổ chức làm thuê CRO (Contract Research Organization) chuyên cung cấp dịch vụ từ thiết kế, tổng hợp, phân tích đến thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng cho các phân tử thuốc. Trong đó, CRO tạo điều kiện cho các nhóm nghiên cứu hoặc doanh nghiệp nhỏ tham gia đổi mới và thử nghiệm đánh giá các ý tưởng một cách nhanh chóng. Hoạt động của các CRO đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao cùng hạ tầng hiện đại song có "ngưỡng tham gia" thấp hơn so với việc tự phát minh một loại thuốc hoàn toàn mới. Đáng chú ý, các CRO đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nhân lực công nghệ cao, đồng thời giúp tích lũy vốn cho các bước phát triển R&D tiếp theo của Việt Nam.
Sau cùng, Việt Nam cần chủ động tham gia các hợp tác quốc tế. Việt Nam không thiếu cơ hội tham gia các mạng lưới quốc tế về nghiên cứu vi sinh vật kháng thuốc kháng sinh và phát triển kháng sinh. Các chương trình của WHO và hệ thống giám sát toàn cầu đang giúp Việt Nam tích lũy dữ liệu về gánh nặng kháng thuốc, mô hình sử dụng kháng sinh và xu hướng chủng kháng. Những dữ liệu này quan trọng để xác định mục tiêu nghiên cứu và định vị ưu tiên phát triển thuốc.
Ngoài ra, Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào các đối tác như GARDP, CARB-X, hoặc các chương trình R&D khu vực châu Âu và châu Á như một đối tác có dữ liệu lâm sàng, có nguồn chủng vi sinh, và có khả năng thử nghiệm trong hệ thống bệnh viện. Khi đó, Việt Nam không chỉ là nơi tiếp nhận kết quả nghiên cứu mà còn có thể trở thành điểm tạo tri thức.
Điều quan trọng không phải là "xin" tham gia các chương trình lớn, mà là chuẩn bị đủ năng lực để trở thành đối tác có giá trị với dữ liệu, chủng giống, bệnh viện, nhà khoa học, năng lực nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng.
Hợp tác quốc tế cũng có thể đi theo hướng "chuyển giao công nghệ nền tảng" chứ không chỉ chuyển giao kết quả. Ví dụ, các nhóm trong nước có thể học và nhận chuyển giao quy trình sàng lọc hoạt tính, mô hình kháng thuốc, phân tích cấu trúc-hoạt tính, hay công cụ AI hỗ trợ dự đoán phân tử. Đây là cách nhanh hơn nhiều so với việc tự xây mọi thứ từ đầu.
Kháng sinh là một phần quan trọng của y học hiện đại, gắn với an ninh y tế, chứ không chỉ là một nhánh sản xuất dược phẩm thông thường. Khi mất đi kháng sinh có hiệu quả, nhiều thành tựu y học khác cũng bị đe dọa.
Vì vậy, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển kháng sinh không phải là lựa chọn mà là một yêu cầu cấp thiết. Với Việt Nam, đây là thời điểm thích hợp để chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy sáng tạo, từ mô hình ngắn hạn sang xây dựng hệ sinh thái dài hạn, và từ vị thế đi sau sang vị thế tham gia chủ động vào cuộc tìm kiếm giải pháp cho khủng hoảng kháng thuốc. Bằng việc phát triển một hệ sinh thái dựa trên hợp tác công - tư, khoa học mở và nhân lực liên ngành, lĩnh vực thuốc kháng sinh có thể dẫn dắt đổi mới ngành y sinh Việt Nam trong thập kỷ tới.
---
* Ghi chú: Bài viết thể hiện ý kiến của tác giả, không đại diện cho cơ quan tác giả đang làm việc.
- Kháng kháng sinh: Sát thủ thầm lặng do chính con người đào luyện
- Gian nan gỡ ngòi 'quả bom nổ chậm’ kháng kháng sinh
- Kẻ thù vô hình từ trang trại đến bàn ăn
Tài liệu tham khảo:
Global burden of bacterial antimicrobial resistance in 2019: a systematic analysis. The Lancet. https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(21)02724-0/fulltext
The burden of antimicrobial resistance in Viet Nam. Institute for Health Metrics and Evaluation. https://www.healthdata.org/sites/default/files/2023-09/Viet_Nam.pdf
Why is it so difficult to make a new antibiotic. Gavi, the Vaccine Alliance. https://www.gavi.org/vaccineswork/why-it-so-difficult-make-new-antibiotic
The economics of antibiotics are broken and superbugs are on the rise–but a solution inspired by the subscription economy could save millions of lives. Fortune. https://fortune.com/2024/03/28/economics-antibiotics-broken-superbugs-solution-subscription-economy-health-congress-pasteur-act-howard-dean/
A novel antibiotic class targeting the lipopolysaccharide transporter. Nature. https://www.nature.com/articles/s41586-023-06873-0
A Comprehensive Overview of the Antibiotics Approved in the Last Two Decades: Retrospects and Prospects. Mocules. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC9962477
Report highlights progress in efforts to incentivize antibiotic R&D. Center for Infectious Disease Research and Policy. https://www.cidrap.umn.edu/antimicrobial-stewardship/report-highlights-progress-efforts-incentivize-antibiotic-rd
CARB-X and GARDP funding and pipeline revitalization reports. Center for Infectious Disease Research and Policy. https://www.cidrap.umn.edu/antimicrobial-stewardship/carb-x-gardp-receive-funding-boost-european-commission
There is no market for new antibiotics: this allows an open approach to research and development. Wellcome Open Research. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC8237369
Vietnam Tracks Multi-drug Resistant Bacteria. CDC. https://archive.cdc.gov/www_cdc_gov/globalhealth/security/stories/vietnam-tracks-multi-drug-resistant-bacteria.html