![]() |
Dự án với phương pháp kể chuyện bằng hình ảnh "Photovoice - Văn hóa người Thái ở bản Hoa Tiến" của sinh viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: VNU-SIS |
AI ngày càng đạt được những năng lực mà trước đây chỉ có trong tưởng tượng như phát hiện hành vi, mô phỏng cảm xúc, tự động ra quyết định ở quy mô hàng triệu người dùng. Nhưng đi cùng sức mạnh đó là rủi ro cho con người mà các kỹ sư không thể tự giải được: thiên vị trong thuật toán, mô hình gây phân biệt đối xử, xâm phạm quyền riêng tư, hoặc thay thế, khiến người lao động mất việc...
Đó là lý do TS. Nguyễn Đình Bình - nguyên Giám đốc Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (Bộ KH&CN) cho rằng các chuyên gia xã hội học, nhân chủng học hay tâm lý học đang trở thành lực lượng không thể thiếu trong hệ sinh thái AI, để nhận diện, phân tích và đề xuất giải pháp "nhằm giảm thiểu những thiên vị", ông viết trong một báo cáo tại tọa đàm "Tiếp cận đa chiều về dịch chuyển nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư" do trường Đại học KHXH&NV (ĐHQGHN) tổ chức vào cuối tháng 11.
Sự bùng nổ AI vì thế không làm giảm nhu cầu nhân lực KHXH&NV mà ngược lại, đòi hỏi người làm KHXH&NV phải tham gia vào mọi khâu của vòng đời công nghệ, từ thiết kế dữ liệu, đánh giá tác động đến hoạch định thể chế.
Đó mới chỉ là một trong rất nhiều vấn đề mà Việt Nam cần phải tìm câu trả lời trong bối cảnh mới. "Nhiều thách thức lớn của xã hội hiện đại như biến đổi khí hậu, đô thị hóa, an sinh xã hội, giáo dục, y tế đều đòi hỏi giải pháp liên ngành. Công nghệ có thể cung cấp công cụ và phương tiện, nhưng KHXH&NV giúp hiểu rõ nguyên nhân gốc rễ, động lực xã hội, và các yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến việc triển khai giải pháp", TS. Nguyễn Đình Bình nhận định trong một bài viết cho tọa đàm.
Thiếu nhân lực giải mã các vấn đề mới nổi
Hiện nay có một xu hướng nổi bật là nhân lực đang chuyển mạnh khỏi các ngành khoa học thuần túy (nhân văn truyền thống) sang các lĩnh vực lai ghép với các ngành khoa học khác, chẳng hạn như khoa học dữ liệu, công nghệ số, môi trường đô thị, chính sách công, theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Dũng - Trưởng khoa Khoa học quản lý (Đại học KHXH&NV). "Tính liên ngành hiện nay đã trở thành yếu tố sống còn [cho các ngành KHXH&NV]".
Quá trình dịch chuyển không chỉ diễn ra giữa các lĩnh vực học thuật mà còn giữa các khu vực việc làm, nhân lực cũng dịch chuyển từ khối hàn lâm sang nghiên cứu ứng dụng, phân tích chính sách và tư vấn chiến lược, và có xu hướng dịch chuyển từ khu vực công (việc làm nhà nước) sang thị trường lao động mở và đa khu vực, dẫn đến cạnh tranh lao động tăng mạnh và các đơn vị công lập mất dần nhân tài. Trong bối cảnh công nghệ số và AI đang đặt ra các yêu cầu mới cho nhân lực KHXH&NV, sự dịch chuyển này cũng dẫn đến sự phân hóa sâu sắc trong chất lượng nhân lực, với hai nhóm rõ rệt: nhóm nhỏ có năng lực cao, thành thạo AI; và nhóm đông đảo còn lại chưa đáp ứng yêu cầu năng lực số.
Theo TS. Nguyễn Thị Hương Quỳnh (Bộ Giáo dục và Đào tạo), nhân lực khoa học và công nghệ lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn truyền thống có nền tảng kiến thức cơ bản tốt nhưng còn hạn chế về kỹ năng số và phân tích dữ liệu lớn. Các kỹ năng như sử dụng trí tuệ nhân tạo, quản lý dữ liệu, mô hình hóa xã hội học hay kết hợp công nghệ trong nghiên cứu vẫn chưa phổ biến. Đồng thời, năng lực sáng tạo trong phát triển các giải pháp đổi mới, chuyển giao công nghệ và ứng dụng kết quả nghiên cứu còn chưa tương xứng với nhu cầu thực tiễn. Cũng bởi vậy, "các ngành KHXH&NV truyền thống đang dư thừa nhân lực, trong khi đó, các lĩnh vực mới như kinh tế số, xã hội số, văn hóa số, và phân tích hành vi lại đang thiếu nhân lực", PGS.TS Nguyễn Mạnh Dũng nhận định.
Không chỉ vậy, Việt Nam cũng còn thiếu khung chính sách rõ ràng về nhân lực KHXH&NV trong đổi mới sáng tạo. "Hiện tại, các văn bản chiến lược về phát triển KHCN & ĐMST còn ít đề cập đến vai trò riêng biệt của nhân lực KHXH&NV, khiến việc phân bổ ngân sách, chỉ tiêu đào tạo và tuyển dụng gặp hạn chế", TS. Phạm Thế Dũng (Bộ KH&CN) cho biết.
Trong khi đó, chỉ riêng lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, nhân lực từ lĩnh vực KHXH&NV đã có thể đóng vai trò rất quan trọng, chẳng hạn như đảm bảo tính nhân văn và đạo đức của AI. AI càng mạnh, vai trò của KHXH&NV càng lớn trong việc kiểm soát rủi ro xã hội và đạo đức. "Dữ liệu lớn thường chứa đựng những thành kiến lịch sử, xã hội. Các chuyên gia KHXH&NV (xã hội học, nhân chủng học, tâm lý học) có khả năng nhận diện, phân tích và đề xuất giải pháp để giảm thiểu những thiên vị này trong dữ liệu và thuật toán AI, đảm bảo AI không tái tạo hoặc làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng xã hội", TS. Nguyễn Đình Bình phân tích.
Khi AI ngày càng thông minh và tự chủ, các vấn đề về quyền riêng tư, trách nhiệm pháp lý, và tác động đến việc làm càng trở nên cấp bách. "Các nhà triết học, luật học và đạo đức học đóng vai trò chủ chốt trong việc xây dựng các nguyên tắc, quy định và chính sách để quản lý sự phát triển và ứng dụng của AI một cách có trách nhiệm, đảm bảo AI phục vụ lợi ích của con người chứ không phải ngược lại", TS. Nguyễn Đình Bình dẫn ví dụ.
Giải pháp nào?
Các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần sớm có chính sách đặc thù cho đội ngũ nhân lực khoa học xã hội và nhân văn, nhằm thúc đẩy đổi mới tư duy và xác lập rõ hơn vai trò của lĩnh vực này trong phát triển kinh tế - xã hội. Trước hết, chính sách thu hút nhân tài cần được cải thiện theo hướng tăng tính cạnh tranh về đãi ngộ, hỗ trợ phúc lợi xã hội, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng gay gắt. "Hiện tỷ lệ tuyển dụng nhân lực chất lượng cao vào khu vực công vẫn rất thấp, chỉ khoảng 0,2% trong giai đoạn 2020-2022 theo số liệu công bố chính thức", TS. Nguyễn Thị Thúy Hiền (Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ KH&CN) cho biết.
Một yêu cầu cấp thiết khác là thúc đẩy mô hình hợp tác Đại học - Doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp tham gia xây dựng nhu cầu và đặt hàng đào tạo, còn các trường đại học lồng ghép kỹ năng số và tăng thời lượng thực hành. Cách tiếp cận này được kỳ vọng sẽ thu hẹp khoảng cách kỹ năng, giúp sinh viên lĩnh vực KHXH&NV thích ứng tốt hơn với nhu cầu mới của thị trường lao động.
Lấy ví dụ về một số trường đại học có hàng chục bằng sáng chế nhưng chỉ có 1-2 kết quả được chuyển thành sản phẩm ngoài thị trường, PGS.TS. Trần Văn Hải (Khoa Khoa học Quản lý, trường Đại học KHXH&NV) cho rằng, việc thương mại hóa luôn đòi hỏi sự tham gia của kinh tế học, quản trị, khoa học hành vi và các công cụ phân tích xã hội – những lĩnh vực mà KHXH&NV nắm giữ lợi thế. Nếu thiếu các năng lực này, phần lớn kết quả nghiên cứu sẽ khó đi đến thị trường.
Việc áp dụng các nguyên lý quản trị mục tiêu lớn cũng có thể là nền tảng để thực hiện những mục tiêu phát triển dài hạn, khai thác sức mạnh của nghiên cứu liên ngành, và hiện thực hóa giá trị của các kiến thức không bị ràng buộc bởi tính thực dụng, theo nhận định của TS. Nguyễn Minh Hoàng (Trung tâm Nghiên cứu Xã hội Liên ngành, Trường Đại học Phenikaa) trong một bài viết trên Báo KH&PT.
Được sáng lập vào năm 2017, Trung tâm Nghiên cứu Xã hội Liên ngành (ISR) đã xác định xây dựng và phát triển dựa trên các nguyên lý quản trị mục tiêu lớn: đặt mục tiêu đóng góp cho các vấn đề thời đại, dấn thân vào những việc tưởng chừng như không thể như đề xuất cải tiến hệ thống kinh tế học nhằm giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, triển khai các cơ sở dữ liệu khoa học quốc gia.... "Khi xác định được công việc có giá trị cho mục tiêu chung, nhóm nghiên cứu sẽ triển khai mà không phân biệt loại hình hay phương thức", TS. Nguyễn Minh Hoàng cho biết. "Nhờ đó, sản phẩm của Trung tâm trải rộng từ công bố hàn lâm đến sách, phương pháp luận và bài viết truyền thông khoa học".
Từ kinh nghiệm mô hình liên ngành này, TS. Hoàng cho rằng thúc đẩy các trung tâm nghiên cứu liên ngành, xây dựng hệ phương pháp liên ngành và bảo đảm nguồn lực phù hợp có thể trở thành một hướng đi quan trọng cho Việt Nam trong giai đoạn tới.
Bài đăng KH&PT số 1374 (số 50/2025)
Mỹ Hạnh
